Không chỉ dựa vào đội ngũ báo cáo viên pháp luật chuyên trách, việc huy động luật sư, luật gia, chuyên gia và những người có uy tín tại cộng đồng có thể tạo thêm kênh đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Công nghệ số mở thêm kênh cung cấp thông tin pháp luật, giúp người dân tra cứu quy định và tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn. Tuy nhiên, với đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở địa bàn khó khăn, chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng điều kiện kết nối, kỹ năng sử dụng và nội dung phù hợp.
Số lượng buổi tuyên truyền, lượng tài liệu phát hành hay số lượt người tham dự các hội nghị là những chỉ số thống kê cơ bản, cần thiết để đo lường quy mô của một chính sách. Tuy nhiên, những con số bề nổi ấy chưa đủ sức để phản ánh một sự thật quan trọng và sâu sắc hơn: người dân đã thực sự hiểu, biết vận dụng pháp luật và có đủ năng lực, sự tự tin để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình hay chưa. Trong bối cảnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng hoàn thiện, hành trình đưa pháp luật vào đời sống, đặc biệt là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đòi hỏi một tư duy quản trị mới – nơi sự đầu tư không thể chỉ đo đếm bằng các chiến dịch truyền thông bề nổi, mà phải kết tinh thành những giá trị thụ hưởng thực chất.
Từ Quyết định số 233/QĐ-TTg đến việc triển khai các tiêu chí tiếp cận pháp luật tại 135 xã, phường, Gia Lai đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ chính sách để đưa pháp luật đến gần hơn với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhưng chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi người dân hiểu quyền, biết nghĩa vụ và có thể vận dụng quy định pháp luật để giải quyết những vấn đề của mình. Bởi vậy, thước đo của phổ biến, giáo dục pháp luật không thể dừng ở số buổi tuyên truyền, mà phải là những chuyển biến thực chất trong nhận thức và hành động của người dân.