Điều tiết nguồn nước: Bài toán hiệu quả
Có những năm, các hồ chứa trên lưu vực sông Hồng xả khoảng 5 tỷ m³ nước phục vụ hạ du, nhưng lượng nước thực tế được khai thác, sử dụng chỉ khoảng 1,5 tỷ m³. Sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả khai thác và điều tiết nguồn nước, nhất là trong bối cảnh nhiều nơi vẫn chật vật tìm nguồn cấp nước.

Điều tiết nguồn nước hiệu quả đòi hỏi sự đồng bộ dữ liệu và cơ chế phối hợp vận hành liên hồ chứa. Ảnh: TTXVN
Thiếu kết nối trong khai thác, điều tiết nguồn nước
Trong quản lý tài nguyên nước, lượng nước có trong sông, hồ mới chỉ là một phần của vấn đề. Nước có đến đúng nơi, đúng thời điểm hay không còn phụ thuộc vào khả năng dự báo, điều tiết công trình và tổ chức khai thác ở hạ du. Khi các khâu này thiếu kết nối, nguồn nước được đưa về cũng chưa chắc được sử dụng hiệu quả.
Dẫn chứng từ thực tiễn điều tiết nước trên lưu vực sông Hồng, GS. Nguyễn Quốc Dũng - Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam - cho biết, có những năm, các hồ chứa phải xả khoảng 5 tỷ m³ nước phục vụ hạ du, nhưng lượng nước thực tế được khai thác, sử dụng chỉ khoảng 1,5 tỷ m³.
“Một trong những điểm nghẽn hiện nay là thiếu hành lang pháp lý và cơ chế tài chính cho hoạt động phối hợp giữa các chủ hồ thủy điện và đơn vị khai thác công trình thủy lợi. Việc nghiên cứu quy chế vận hành, xây dựng kịch bản phối hợp hay lập bản đồ ngập lụt đều cần nguồn lực, nhưng chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm đóng góp, phân bổ kinh phí giữa các bên” - ông Dũng nhấn mạnh.
Trong khi đó, biến động nguồn nước do thời tiết tiếp tục gây sức ép lên công tác điều tiết. ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa - Trưởng phòng Lưu vực sông Nam Trung Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước - lưu ý, trong tháng 6 - 8/2026, dòng chảy trên hầu hết sông, suối thuộc 12 lưu vực sông lớn thấp hơn 11 - 75% so với trung bình nhiều năm. Đến tháng 9, dù một số lưu vực xuất hiện mưa lũ, dòng chảy nhìn chung vẫn thiếu hụt.
Khó khăn còn thể hiện rõ tại các công trình lấy nước phục vụ sản xuất. Ông Lương Xuân Chính - Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải - chia sẻ, mực nước sông Hồng tại Xuân Quan duy trì ở mức thấp, khiến lượng nước lấy qua cống có thời điểm chỉ đạt khoảng 20% công suất thiết kế. Xâm nhập mặn tại Cầu Xe, An Thổ cũng gây thêm sức ép lên việc lấy nước và vận hành hệ thống. Trong khi đó, lượng mưa phân bố thất thường, mùa lũ có lúc xuất hiện mưa lớn vượt tần suất thiết kế, còn mùa khô thường xuyên thiếu nước.
Theo TS. Nguyễn Ngọc Hà - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, những điểm nghẽn chủ yếu hiện nay nằm ở chất lượng dữ liệu và dự báo, mức độ chi tiết của kịch bản, sự phối hợp liên ngành và năng lực tổ chức thực hiện. Dữ liệu thiếu, chậm hoặc không tin cậy khiến kịch bản khó phát huy hiệu quả trong điều hành. Ngay cả khi nguồn nước toàn lưu vực tương đối ổn định, một tiểu lưu vực, cụm hồ hoặc khu vực khai thác tập trung vẫn có thể thiếu nước cục bộ.
Ngoài ra, tình trạng xả thải trái phép, lấn chiếm dòng chảy tại nhiều địa phương ảnh hưởng đến việc khai thác nguồn nước. Nguồn nhân lực công nghệ còn thiếu, trong khi thủ tục cấp phép khai thác nước mặt đối với các công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu vẫn phức tạp, đòi hỏi nhiều nội dung khảo sát, đánh giá lại.
Mặt khác, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sông Đà 9 - ông Trần Anh Phương - cho hay, các đơn vị vận hành thủy điện phải đồng thời đáp ứng yêu cầu phát điện, bảo đảm an toàn hạ du và tuân thủ các quy định về tài nguyên nước, an toàn đập, phòng, chống thiên tai và bảo vệ môi trường. Với thủy điện nhỏ, dung tích hồ hạn chế khiến việc cân đối giữa phát điện và duy trì cấp nước hạ du trong mùa khô càng khó khăn, nhất là khi thời điểm xả nước không trùng với thời điểm cần nước.
Việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước phải căn cứ vào quy hoạch tài nguyên nước, kịch bản nguồn nước, hiện trạng và nhu cầu sử dụng, hạn ngạch khai thác, cùng kết quả hạch toán tài nguyên nước nếu có.
ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa - Cục Quản lý tài nguyên nước
Đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên hồ chứa
Theo ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa, để giải bài toán điều hòa, phân phối tài nguyên nước một cách hiệu quả, cần tích hợp dữ liệu với các mô hình toán, phần mềm tính toán và hệ thống giám sát, quan trắc các công trình khai thác, sử dụng nước trên nền tảng số. Thông tin được cập nhật thường xuyên sẽ hỗ trợ điều chỉnh chế độ vận hành hồ chứa, từng bước nâng cao khả năng điều hòa, phân phối nước theo diễn biến thực tế. Tuy nhiên, hạ tầng và dữ liệu hiện chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nên cần được hoàn thiện theo lộ trình.
Đồng quan điểm, PGS, TS. Nguyễn Mai Đăng - Trường Đại học Thủy lợi - cho rằng, cần chuẩn hóa dữ liệu và mạng lưới quan trắc trước khi mở rộng các giải pháp công nghệ. Trạm đo tự động chỉ thực sự hữu ích khi được kiểm định, hiệu chỉnh thường xuyên và cung cấp số liệu đáng tin cậy. Nếu dữ liệu đầu vào sai lệch, các mô hình dự báo và công cụ hỗ trợ ra quyết định cũng khó đưa ra phương án vận hành phù hợp.
Ông Đăng đề xuất xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung để cơ quan dự báo, chủ hồ chứa ở thượng lưu và các đơn vị sử dụng nước ở hạ du có thể tiếp cận thông tin cần thiết. Việc chia sẻ dữ liệu cần đi cùng cơ chế cập nhật thường xuyên, xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị và bảo đảm số liệu được sử dụng thống nhất trong quá trình điều hành.
GS. Nguyễn Quốc Dũng kiến nghị sớm hoàn thiện quy chế phối hợp vận hành liên hồ chứa, đồng thời xây dựng cơ chế tài chính cụ thể cho các hoạt động nghiên cứu, quan trắc, lập bản đồ ngập lụt và hỗ trợ ra quyết định. Theo ông Dũng, trách nhiệm, quyền lợi và nguồn lực của các bên cần được quy định minh bạch để việc phối hợp giữa thủy điện và thủy lợi chuyển từ giải pháp tình thế sang vận hành chủ động, lâu dài, bảo đảm an toàn công trình và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trên toàn lưu vực.
Trong khi đó, ông Trần Anh Phương kiến nghị tăng cường liên thông dữ liệu thủy văn trên cùng lưu vực, chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành và đơn giản hóa những đầu mối báo cáo chồng chéo. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về phương án vận hành trong tình huống đặc biệt, nhất là khi thiên tai nghiêm trọng gây mất liên lạc, để doanh nghiệp có căn cứ xử lý, bảo đảm an toàn công trình và hạ du.
Đối với hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, ông Lương Xuân Chính đề nghị tăng cường phối hợp vận hành các công trình trên hệ thống sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình và sông Luộc; đồng thời kiểm soát nguồn thải, xử lý tình trạng lấn chiếm dòng chảy. Khi nguồn nước đầu vào suy giảm, các đơn vị quản lý không thể chỉ dựa vào việc tăng công suất vận hành mà cần phối hợp điều tiết giữa các công trình, địa phương và kiểm soát những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, khả năng lưu thông của nguồn nước.
Bên cạnh dữ liệu và cơ chế phối hợp, kịch bản nguồn nước cần gắn trực tiếp với kế hoạch sản xuất và cấp nước. TS. Nguyễn Ngọc Hà nhấn mạnh giá trị của kịch bản phải thể hiện qua những quyết định cụ thể của địa phương, từ lịch lấy nước, phương án cấp nước đến điều chỉnh mùa vụ khi nguồn cung không đáp ứng nhu cầu./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/dieu-tiet-nguon-nuoc-bai-toan-hieu-qua
