Định giá di sản: Nhìn từ những giá trị Hà Nội đang tạo ra
Di sản không chỉ tạo nguồn thu từ vé tham quan hay dịch vụ du lịch. Một di sản còn có thể tạo việc làm, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, giáo dục, nghiên cứu, nâng sức hút điểm đến và duy trì sinh kế cộng đồng. Với Hà Nội, nơi có hệ thống di sản dày đặc, câu chuyện định giá vì thế không chỉ là tìm một con số cho di sản, mà còn là nhận diện đầy đủ những giá trị đang được tạo ra.
Nhiều giá trị sau một di sản
Tại Hoàng thành Thăng Long, việc phát huy giá trị di sản được triển khai song song với nghiên cứu và bảo tồn. Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức các hoạt động trưng bày, triển lãm, chương trình giáo dục di sản, sự kiện thường niên và khai thác các sản phẩm du lịch mới. Những hoạt động này giúp các giá trị lịch sử, khảo cổ được chuyển thành những hình thức tiếp cận gần hơn với công chúng. Ở đây, giá trị của di sản không chỉ nằm trong khoản thu trực tiếp từ hoạt động tham quan. Không gian di sản còn trở thành địa điểm tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục, nghiên cứu; tạo nhu cầu đối với đội ngũ hướng dẫn, dịch vụ du lịch và các sản phẩm văn hóa.

Hoàng thành Thăng Long được khai thác qua nhiều hoạt động tham quan, giáo dục và văn hóa. Ảnh: Hoàng thành Thăng Long
Còn tại Làng cổ Đường Lâm, nơi hiện có gần 100 ngôi nhà hơn trăm năm tuổi, cùng hệ thống đình, đền, chùa, cổng làng, giếng cổ, đường làng, ngõ xóm, tường đá ong và cảnh quan đặc trưng xứ Đoài. Đây không chỉ là những công trình riêng lẻ mà tạo thành một không gian văn hóa còn gắn với đời sống của người dân. Trong cuộc khảo sát công tác bảo tồn, phát huy giá trị Làng cổ Đường Lâm tháng 6-2026, thành phố ghi nhận nhiều hộ dân đang kết hợp bảo tồn nhà cổ với phát triển du lịch trải nghiệm, dịch vụ ẩm thực, lưu trú và kinh doanh sản phẩm truyền thống. Những hoạt động này góp phần tạo việc làm, nâng thu nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải giữ được không gian và bản sắc của làng cổ.
Giá trị của di sản cũng gắn liền với sinh kế cộng đồng. Các làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nơi đây vẫn duy trì hoạt động sản xuất, tạo việc làm và sinh kế cho cộng đồng, đồng thời phát triển du lịch làng nghề, các hoạt động trải nghiệm và không gian giới thiệu lịch sử, văn hóa. Đề án Khu phát triển thương mại và văn hóa, Bảo tàng sinh thái Làng cổ Bát Tràng cũng cho thấy mối liên hệ này. Chuỗi tạo giá trị này không chỉ để giữ nghề mà cũng chính là gìn giữ di sản.
Đo giá trị để phát huy đúng
Mới đây, ngày 11-9, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức xin ý kiến về Đề án “Định giá kinh tế di sản, TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”. Đề án dự kiến triển khai 8 đề án thành phần tại các di sản, trong đó có Hoàng thành Thăng Long. Cách tiếp cận đặt di sản trong mối quan hệ với các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm, thay vì chỉ nhìn vào lượng khách hay nguồn thu trực tiếp.
Điều này không tách rời khỏi định hướng phát triển văn hóa hiện nay. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết đồng thời yêu cầu xử lý hài hòa quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; đặt vấn đề nghiên cứu, lượng giá TEV, phát triển kinh tế di sản, “biến di sản thành tài sản” và từng bước hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản.

Du khách tham quan, trải nghiệm tại làng gốm Bát Tràng. Ảnh: Bảo tàng gốm Bát Tràng
Di sản vẫn trước hết phải được bảo vệ, nhưng không chỉ được nhìn như những giá trị cần giữ lại. Di sản còn là nguồn lực có thể tiếp tục tạo ra những giá trị mới cho đời sống hiện tại. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đặt văn hóa trong mối quan hệ trực tiếp với thị trường, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa.
Theo TS. Nguyễn Thị Quý Phương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông, khi chủ thể và khả năng khai thác quyền đã rõ, định giá là bước tiếp theo; giá trị của tài sản văn hóa, tài sản trí tuệ phải được nhìn từ khả năng tạo doanh thu, nhu cầu thị trường và năng lực tổ chức khai thác. Dữ liệu về quyền và quá trình khai thác phải đủ tin cậy để làm đầu vào cho định giá; ngược lại, dữ liệu về mức giá, phạm vi khai thác, nhu cầu và doanh thu cũng cần được đưa trở lại hệ thống để làm cơ sở cho các quyết định đầu tư tiếp theo. Nhìn từ di sản, điều này đặt ra một yêu cầu rộng hơn về dữ liệu. Không chỉ cần biết di tích có những gì, giá trị lịch sử ra sao, mà còn cần biết di sản đang được khai thác như thế nào, tạo ra những sản phẩm gì, thu hút bao nhiêu người, tạo việc làm và sinh kế ra sao, tác động thế nào đến các dịch vụ xung quanh.
Vậy nên, muốn định giá đúng phải nhìn được cả chuỗi tạo giá trị. Một mức doanh thu từ bán vé có thể phản ánh một phần giá trị sử dụng trực tiếp của di sản. Nhưng nếu du khách lưu trú thêm một đêm vì muốn tham quan di sản, chi tiêu tại nhà hàng, mua sản phẩm thủ công, tham gia một chương trình trải nghiệm; nếu một không gian di sản tạo việc làm cho người dân; nếu một câu chuyện lịch sử trở thành chất liệu cho phim, thiết kế, trò chơi hay sản phẩm giáo dục, thì những giá trị ấy cũng cần được nhận diện trong bức tranh tổng thể.
Theo TS. Lê Tùng Sơn, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, cần có khả năng kết nối các khâu từ tài sản, quyền khai thác, định giá, vốn đến thị trường. Với di sản, điều đó càng cho thấy định giá không thể chỉ là phép tính cuối cùng. Đằng sau một con số phải là hệ thống dữ liệu, phương pháp đo lường và khả năng giải thích con số ấy được hình thành từ đâu.
Quan trọng hơn, không phải giá trị nào của di sản cũng có thể và cần thiết quy đổi hoàn toàn thành tiền. Giá trị về ký ức, bản sắc, giáo dục, sự gắn kết cộng đồng hay ý nghĩa lịch sử cần những cách tiếp cận khác. Chính vì vậy, định giá không nên được hiểu là đặt một “giá bán” cho di sản. Cùng với đó là yêu cầu cao hơn về quản lý: Mô hình khai thác nào phù hợp? Mức độ khai thác đến đâu là hợp lý? Nguồn thu có thể quay trở lại bảo tồn như thế nào? Người dân sống trong không gian di sản được hưởng lợi ra sao?
Theo thông tin từ Cục Di sản văn hóa, kết quả lượng hóa TEV được kỳ vọng cung cấp thêm dữ liệu cho phân bổ ngân sách, lựa chọn dự án đầu tư, quy hoạch đô thị và du lịch, thiết kế cơ chế tài chính bảo tồn, xác định mức phí và giá dịch vụ, xây dựng quỹ bảo tồn, tái đầu tư nguồn thu và chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Đó có thể trở thành một công cụ để Hà Nội nhìn rõ hơn nguồn lực văn hóa của mình, lựa chọn cách khai thác phù hợp và tạo thêm nguồn lực cho việc gìn giữ những giá trị không thể thay thế.
