Định hình thị trường carbon Việt Nam - nhiều cơ hội mới được mở
Thị trường carbon chính thức bước vào giai đoạn vận hành thí điểm bằng việc đưa sàn giao dịch carbon trong nước vào vận hành từ ngày 29/6/2026. Đây là dấu mốc rất quan trọng giúp Việt Nam phát triển.

Định hình thị trường carbon Việt Nam - nhiều cơ hội mới được mở. Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN
Thị trường carbon Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn vận hành thí điểm bằng việc đưa sàn giao dịch carbon trong nước vào vận hành từ ngày 29/6/2026. Đây là dấu mốc rất quan trọng giúp Việt Nam phát triển nguồn tài chính xanh, thúc đẩy doanh nghiệp xanh, đồng thời tăng vị thế quốc tế của quốc gia tiên phong trong ứng phó biến đổi khí hậu hướng tới cam kết đạt Net Zero vào năm 2050.
*Mở đường cho những giao dịch thương mại đầu tiên
Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế xanh bằng việc Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/1 về Sàn giao dịch carbon trong nước và Thủ tướng ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 về phê duyệt tổng hạn ngạch thí điểm cho giai đoạn 2025-2026, hành lang pháp lý cho thị trường carbon đã cơ bản định hình. Trên cơ sở đó, 110 cơ sở phát thải lớn thuộc ba nhóm ngành: nhiệt điện, sắt thép và xi măng đã được phân bổ hạn ngạch cụ thể, mở đường cho những giao dịch thương mại đầu tiên.
Khi thị trường carbon được triển khai, nhiều cơ hội mới sẽ được mở ra với các doanh nghiệp, huy động nguồn lực, triển khai các dự án giảm phát thải. Tham gia vào thị trường carbon không chỉ là cách để giảm chi phó tuân thủ môi trường mà còn là cơ hội tiếp cận tài chính xanh, cải thiện hình ảnh thương hiệu và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) ngày càng khắt khe.
Chia sẻ rõ hơn về thị trường carbon trong nước, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu Nguyễn Thành Công cho biết: Mục tiêu chính là hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính để thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính quốc gia, bao gồm Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) và hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Điều này cũng thúc đẩy đầu tư giảm phát thải khí nhà kính, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam trước các yêu cầu phát triển xanh, bền vững của quốc tế.
Để chuẩn bị đưa sàn giao dịch carbon trong nước vào vận hành, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Lễ ký kết các Biên bản phối hợp giữa các bên liên quan trong tổ chức vận hành sàn giao dịch carbon trong nước. Các Biên bản phối hợp được ký kết gồm: Biên bản phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường (đại diện là Cục Biến đổi khí hậu) với Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX), Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX); Biên bản phối hợp giữa VNX và VSDC; Biên bản phối hợp giữa VSDC và HNX; và Biên bản phối hợp giữa VSDC và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).
Theo Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu Nguyễn Tuấn Quang, việc ký kết và tham gia phối hợp với các bên liên quan là cơ sở chính thức để các bên thống nhất nguyên tắc, đầu mối, phương thức trao đổi thông tin, dữ liệu; thực hiện báo cáo, giám sát, công bố thông tin và triển khai các nghiệp vụ liên quan đến đăng ký, ký gửi, giao dịch, thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, phối hợp xử lý sự cố và các vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành sàn giao dịch carbon trong nước. Đồng thời thể hiện sự sẵn sàng về mặt tổ chức, kỹ thuật và nghiệp vụ... trong việc đưa các công cụ kinh tế vào thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của đất nước.
Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính Hoàng Văn Thu cho rằng, việc ký kết và tham gia phối hợp với các bên liên quan thể hiện sự quyết tâm chung trong việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để đưa sàn giao dịch carbon trong nước đi vào hoạt động.
Nếu hành lang pháp lý và hạ tầng kỹ thuật đang dần hoàn thiện, thì bài toán lớn nhất hiện nay lại nằm ở chính doanh nghiệp - chủ thể trực tiếp tham gia thị trường.
Bà Đặng Hồng Hạnh, chuyên gia biến đổi khí hậu, Công ty cổ phần Quản lý PoA Carbon Việt Nam cho biết, điểm đặc biệt của giai đoạn thí điểm là có 110 doanh nghiệp đầu tiên tham gia và đây vừa là lợi thế, vừa là áp lực. Những doanh nghiệp này là nhóm được tiếp cận sớm nhất với cơ chế thị trường carbon, được hỗ trợ tăng cường năng lực và làm quen trước với quy trình giao dịch. Nhưng đi cùng quyền lợi là nghĩa vụ rất rõ. doanh nghiệp phải nộp trả lượng hạn ngạch tương ứng với lượng phát thải thực tế của mình.
Theo vị chuyên gia này, lợi ích lớn nhất của việc doanh nghiệp tham gia sớm không chỉ nằm ở quyền mua bán hạn ngạch, mà còn ở cơ hội thay đổi tư duy quản trị.
“Trước đây doanh nghiệp chỉ coi giảm phát thải là nghĩa vụ môi trường. Giờ đây, carbon trở thành một loại tài sản. Nếu quản trị tốt, doanh nghiệp không chỉ tuân thủ quy định mà còn có thể tạo thêm nguồn thu từ phần hạn ngạch dư thừa hoặc từ tín chỉ carbon”, bà Hạnh phân tích.
Có thể lấy ví dụ như một nhà máy xi măng được Nhà nước phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính (quyền phát thải) 100.000 tấn CO2 tương đương (CO2tđ) trong một năm. Nếu doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới, sử dụng nhiên liệu sạch hơn và chỉ phát thải 90.000 tấn, phần hạn ngạch còn thừa (10.000 tấn) có thể trở thành hàng hóa để bán cho doanh nghiệp khác.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu rõ, xi măng là vật liệu nền của phát triển hạ tầng, do đó giảm phát thải phải đi cùng bảo đảm an ninh vật liệu xây dựng. Từ năm 2025–2026, ngành xi măng bước vào giai đoạn thí điểm hạn ngạch phát thải; yêu cầu về Báo cáo đo lường báo cáo thẩm định chỉ số phát thải (MRV). Việc đưa xi măng vào thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải là bước đi tất yếu, khẳng định vai trò tiên phong của ngành trong chiến lược giảm phát thải. Đây sẽ là động lực tự thân để doanh nghiệp sản xuất xi măng tái cấu trúc công nghệ, tối ưu hóa chu trình sản xuất từ clinker đến thành phẩm xi măng cuối cùng. Nếu ngành xi măng thực hiện tốt, sẽ là minh chứng cho năng lực chuyển đổi xanh của công nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh các cơ chế quốc tế như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon của Liên minh châu Âu đang chuẩn bị áp dụng.
Ngoài ra, khi thị trường carbon Việt Nam được vận hành thì những ngành dễ giảm phát thải sẽ giảm trước và bán lại quyền phát thải cho các ngành khó cắt giảm hơn. Từ đó, góp phần vào mục tiêu giảm phát thải chung của quốc gia, hướng tới mục tiêu Net Zero với chi phí tối ưu nhất mà vẫn đảm bảo phát triển sản xuất, tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bên cạnh có nhiều cơ hội lớn khi tham gia vào thị trường cacbon, Việt Nam cũng sẽ đối diện với nhiều khó khăn như giá tín chỉ carbon thấp; hạ tầng pháp lý chưa hoàn thiện: dịch vụ carbon rừng mới được quy định trong luật, nhưng chưa có khung pháp lý đầy đủ để vận hành thị trường trong nước; năng lực MRV (đo đạc – báo cáo – kiểm chứng) còn hạn chế, dữ liệu chưa đồng bộ...
*Hướng tới xây dựng thị trường carbon phát triển
Để phát triển thị trường này, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm giai đoạn 2025 – 2026. Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT, ngày 27/2/2026 về Thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và năm 2026. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 11/2026/TT-BNNMT ngày 13/02/2026 về Quy định quản lý, vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, tạo cơ sở cho việc quản lý và giao dịch hàng hóa trên sàn giao dịch.
Đề cập đến một số lưu ý khi tham gia thị trường cacbon, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho hay, cần phải tính toán kỹ về cơ hội, chi phí và lợi ích. cần khôn ngoan để vừa tận dụng được nguồn tài chính khí hậu, vừa thúc đẩy chuyển đổi công nghệ và giảm phát thải đồng thời huy động nguồn lực cho quốc gia.
“Nếu biết cách khai thác các cơ hội từ tín chỉ carbon, tận dụng sự kết nối giữa thị trường bù trừ và thị trường tuân thủ, giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì cơ hội tài chính mang lại cho doanh nghiệp có thể tăng gấp 20 đến 30 lần so với giá bán tín chỉ thông thường”, ông Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh.
Các chuyên gia cho rằng, để thị trường carbon phát triển bền vững,Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch carbon theo hướng minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nhà nước cần sớm ban hành các quy định cụ thể về quyền sở hữu tín chỉ carbon, cơ chế giao dịch, chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Cùng với đó, Việt Nam cần xây dựng sàn giao dịch carbon hiện đại, có hệ thống dữ liệu số hóa và kết nối với thị trường quốc tế; phát triển nguồn tín chỉ carbon chất lượng cao. Việt Nam cần tập trung vào bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi rừng ngập mặn, phát triển năng lượng tái tạo và thúc đẩy nông nghiệp xanh. Đây là những lĩnh vực vừa có tiềm năng hấp thụ carbon lớn vừa tạo ra lợi ích bền vững về môi trường và sinh kế cho người dân.
Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động chuyển đổi công nghệ, áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn và xây dựng hệ thống quản lý phát thải hiện đại... Ngoài ra, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn tài chính xanh, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia phát triển; tham gia sâu vào các sáng kiến toàn cầu hay các quỹ khí hậu quốc tế sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường tiêu thụ tín chỉ carbon và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị xanh toàn cầu.
Từ nhứng phân tích trên cho thấy, thị trường carbon không chỉ là giải pháp giảm phát thải khí nhà kính mà còn là cơ hội phát triển kinh tế mới cho Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi xanh. Nếu tận dụng tốt tiềm năng từ rừng, năng lượng tái tạo và công nghiệp sạch, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia cung cấp tín chỉ carbon quan trọng của khu vực Đông Nam Á.
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc đua chuyển đổi xanh và kinh tế carbon thấp, việc phát triển thị trường carbon hiệu quả sẽ giúp Việt Nam vừa bảo vệ môi trường, vừa tạo nguồn thu hàng tỷ USD, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.











