Định hình trục tăng trưởng dài hạn cho du lịch Việt Nam
Dẫu quý 1/2026 ghi nhận những tín hiệu khởi sắc, song áp lực từ giá vé máy bay tăng cao và cạnh tranh khu vực đã đặt du lịch vào giai đoạn chuyển giao đầy thách thức. Trước tình hình đó, toàn ngành cần triển khai các giải pháp kích cầu mang tính đồng bộ, thay đổi cách tiếp cận mục tiêu và nắm bắt thời cơ để tăng trưởng mạnh mẽ.

Vịnh Hạ Long - một trong những điểm đến thu hút khách du lịch hàng đầu Việt Nam. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)
Nhận diện thách thức và thời cơ để xây dựng kịch bản tăng trưởng
Ghi nhận tình hình quý 1/2026, có thể thấy, bối cảnh quốc tế xuất hiện nhiều yếu tố tác động bất lợi, đặc biệt là căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đã làm gia tăng giá nhiên liệu, Điều này cũng kéo theo chi phí vận tải hàng không và dịch vụ du lịch tăng cao.
Dù thị trường khách Trung Đông chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng lượng khách quốc tế của Việt Nam, tuy nhiên, các tác động gián tiếp tới tâm lý tiêu dùng, chi tiêu du lịch và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là khá rõ nét.
Trước bối cảnh đó, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam nhận diện một số cơ hội nổi bật để kích cầu ngành du lịch tăng trưởng như: xu hướng dịch chuyển dòng khách quốc tế tới các điểm đến an toàn, gần và tiết kiệm hơn; gia tăng dòng khách từ các thị trường gần; đồng thời, tạo cơ hội để Việt Nam tiếp tục khẳng định thương hiệu điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn.
Song song với đó là các thách thức như giá vé máy bay tăng, gián đoạn các tuyến hàng không quốc tế, xu hướng thắt chặt chi tiêu toàn cầu và cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực Đông Nam Á về chính sách thị thực, xúc tiến và kích cầu.
Cục trưởng Du lịch Quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh cho biết: "Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đã chủ động chuẩn bị các nội dung báo cáo theo nhiệm vụ được phân công. Trọng tâm là kịch bản tăng trưởng và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành du lịch năm 2026 và giai đoạn 2026-2031".
Theo đó, trên cơ sở phân tích các yếu tố thuận lợi và khó khăn, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam xây dựng 2 kịch bản tăng trưởng cho năm 2026.
Kịch bản tăng trưởng cao được đề xuất trong điều kiện tình hình quốc tế sớm ổn định, các xung đột được kiểm soát và các giải pháp hỗ trợ phát huy hiệu quả, ngành phấn đấu hoàn thành mục tiêu Chính phủ giao là 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa và tổng thu 1,125 triệu tỷ đồng.
Theo đó, quý 1 đã đạt trên 6,7 triệu lượt khách quốc tế và 37 triệu lượt khách nội địa. Quý 2 của kịch bản này dự kiến đạt khoảng 5,6 triệu lượt khách quốc tế và 44 triệu lượt khách nội địa. Quý 3 đạt 5,6 triệu lượt khách quốc tế và 45 triệu lượt khách nội địa. Quý 4 đạt khoảng 7 triệu lượt khách quốc tế và 24 triệu lượt khách nội địa.
Kịch bản còn lại được xây dựng trong trường hợp xung đột địa chính trị kéo dài, kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm hoặc phát sinh thiên tai, dịch bệnh, ngành dự kiến đạt khoảng 22,5 triệu lượt khách quốc tế và 130 triệu lượt khách nội địa.
Ở chiều hướng này, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam dự kiến quý 2 ước đạt khoảng 5 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa. Quý 3 đạt khoảng 4,8 triệu lượt khách quốc tế và 35 triệu lượt khách nội địa. Quý 4 đạt khoảng 5,9 triệu lượt khách quốc tế và 23 triệu lượt khách nội địa.
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đề xuất tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện việc thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị. Đồng thời, hoàn thiện chính sách thị thực theo hướng thuận lợi, linh hoạt hơn cho các thị trường tiềm năng và nhóm khách có khả năng chi trả cao. Cùng với đó, triển khai các chương trình kích cầu du lịch mang tầm quốc gia và sớm thành lập các văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm ở nước ngoài.
Thay đổi tư duy, phương thức điều hành và cách tiếp cận mục tiêu
Theo Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong, thời gian qua, ngành du lịch đã thực sự trở thành điểm sáng trong bức tranh kinh tế-xã hội của đất nước, đóng vai trò tiên phong trong phục hồi tăng trưởng. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn phát triển mới, dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, đòi hỏi ngành phải thay đổi mạnh mẽ về tư duy, phương thức điều hành và cách tiếp cận mục tiêu.
"Giai đoạn đầu sau dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng cao là điều dễ thấy do xuất phát điểm thấp, thị trường bật tăng mạnh theo đà phục hồi. Nhưng khi quy mô ngành ngày càng lớn, việc duy trì mức tăng trưởng cao sẽ khó hơn rất nhiều. Càng về sau, tăng trưởng càng phải dựa trên chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng thực chất", Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong nhận định.
Trước tình hình đó, ngành du lịch không thể tiếp tục chỉ chạy theo số lượng khách mà cần chuyển mạnh từ tư duy số lượng sang tư duy đóng góp kinh tế, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả tổng thể. Theo đó, cần xác định rõ, điều quan trọng không chỉ là bao nhiêu lượt khách mà là mức chi tiêu, thời gian lưu trú, khả năng lan tỏa tới các ngành khác, đóng góp vào GDP và mức độ bền vững của điểm đến.

Bên cạnh việc giới thiệu các tour, tuyến đặc sắc, nhiều sản phẩm ẩm thực, lưu niệm, dịch vụ liên quan đến du lịch cũng được đẩy mạnh tại VITM 2026. (Ảnh: CHIÊU ANH)
Từ định hướng này, ngành du lịch cần tập trung tái cấu trúc hệ thống sản phẩm theo phân khúc chất lượng cao, nâng tỷ trọng lưu trú 4-5 sao, phát triển mạnh các sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp, vui chơi giải trí chất lượng, vận tải du lịch chuyên biệt và các dịch vụ gia tăng giá trị.
Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong nhận định, cùng một tài nguyên nhưng nếu biết tổ chức thành sản phẩm chất lượng, định vị đúng phân khúc và bán với giá trị cao thì hiệu quả kinh tế sẽ khác biệt hoàn toàn, đồng thời giảm áp lực lên môi trường và hạ tầng. Đây chính là hướng đi cần thiết để du lịch phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Song song đó, cần xây dựng bộ chỉ số thống kê mới của ngành để phản ánh đầy đủ đóng góp thực chất của du lịch đối với nền kinh tế. Không chỉ đo lường doanh thu lưu trú, bộ chỉ số này cần xem xét các giá trị lan tỏa sang ngành hàng không, vận tải, viễn thông, tài chính, bán lẻ, bất động sản, ăn uống và các dịch vụ liên quan. Chỉ khi lượng hóa được đầy đủ đóng góp của ngành du lịch vào GDP thì mới có thể quản trị, điều hành tăng trưởng một cách khoa học.
Về thị trường, cần tiếp tục kiên định với chiến lược đa dạng hóa thị trường quốc tế, đồng thời đặc biệt coi trọng thị trường nội địa - động lực quan trọng thúc đẩy dịch chuyển tiêu dùng, kích hoạt các chuỗi giá trị kinh tế ở từng địa phương.
Có thể thấy, Việt Nam đã từng bước tiếp cận sâu hơn các khu vực tiềm năng như Nam Mỹ, Nam Á và một số thị trường mới nổi. Theo đó, Ấn Độ tiếp tục là thị trường tăng trưởng theo cấp số nhân, thị trường Nga phục hồi mạnh mẽ, còn khu vực Đông Bắc Á vẫn giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam. Giữa bối cảnh thế giới còn nhiều biến động, cần ưu tiên các thị trường gần, có khả năng phục hồi nhanh và kết nối thuận lợi là hướng đi phù hợp.
Ngành du lịch không thể tiếp tục chỉ chạy theo số lượng khách mà cần chuyển mạnh từ tư duy số lượng sang tư duy đóng góp kinh tế, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả tổng thể. Theo đó, cần xác định rõ, điều quan trọng không chỉ là bao nhiêu lượt khách mà là mức chi tiêu, thời gian lưu trú, khả năng lan tỏa tới các ngành khác, đóng góp vào GDP và mức độ bền vững của điểm đến.
Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ An Phong đề cao hiệu quả rõ nét của chính sách thị thực thông thoáng và linh hoạt, xem đây là một trong những đòn bẩy quan trọng để mở rộng thị trường. Tuy nhiên, việc đề xuất mở rộng chính sách visa cần được chuẩn bị hết sức bài bản, có đánh giá tác động cụ thể theo từng nhóm thị trường, từng cấp độ miễn thị thực, nhằm bảo đảm hiệu quả thực chất và sức thuyết phục trong quá trình tham mưu Chính phủ.
Ngoài ra, cần xác định rõ trách nhiệm tăng trưởng tới từng địa phương, từng ngành và từng lĩnh vực dịch vụ. Theo đó, xác định rõ các địa phương trọng điểm du lịch, xây dựng KPI cụ thể về lưu trú, doanh thu, vận tải, sản phẩm, vui chơi giải trí và tăng trưởng khách, gắn với cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ.
Bên cạnh các động lực truyền thống, tiếp tục mở rộng các dư địa tăng trưởng mới, trong đó có du lịch đường sắt, đường thủy, đường biển, du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, du lịch nông nghiệp và du lịch MICE.
Đặc biệt, du lịch đường sắt liên vận với Trung Quốc và xa hơn là châu Âu cần sớm được cụ thể hóa bằng các tuyến sản phẩm chuyên đề, tour liên quốc gia và các hành trình trải nghiệm mang tính biểu tượng. Đối với du lịch đường thủy và tàu biển, cần tích hợp phát triển dịch vụ du lịch, hình thành hệ sinh thái logistics riêng cho khách du lịch nhằm khai thác hiệu quả lợi thế đường biển và đường sông của Việt Nam.











