Định hướng 5C cho Khoa học giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên AI
Định hướng khoa học giáo dục Việt Nam giai đoạn 2026-2035: Chọn đúng - Chứng cứ mạnh - Chủ động công nghệ - Cùng kiến tạo - Chuyển giao tri thức.

Hội thảo quốc gia về Khoa học giáo dục năm 2026 tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.
Hội thảo quốc gia về Khoa học giáo dục năm 2026 diễn ra ngày 25 - 26/9 tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng với chủ đề “Đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên AI: Góc nhìn từ khoa học học tập và công nghệ giáo dục”.
Từ kết quả nghiên cứu và thảo luận tại Hội thảo, Khuyến nghị Đà Nẵng 2026 được đề xuất nhằm thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới giáo dục Việt Nam giai đoạn 2026-2035.
Đặt trong tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo của Bộ Chính trị, Khuyến nghị hướng tới sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cộng đồng khoa học giáo dục và các bên liên quan.
Ba thông điệp được xác định làm nền tảng gồm: con người là chủ thể - trung tâm, công nghệ là công cụ; giáo dục dựa trên bằng chứng và dữ liệu; khoa học giáo dục là hạ tầng tri thức của quốc gia.
Từ ba thông điệp này, Khuyến nghị đề xuất “Định hướng 5C”: Chọn đúng - Chứng cứ mạnh - Chủ động công nghệ - Cùng kiến tạo - Chuyển giao tri thức.
Lấy bằng chứng làm nền tảng
Trong kỷ nguyên công nghệ và AI, khoa học giáo dục được đặt trước những vấn đề mới, từ phát triển toàn diện nhân cách người học, khoa học nhận thức và khoa học học tập đến sư phạm trong môi trường tương tác giữa con người và AI.

GS.TS Nguyễn Văn Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phát biểu tại phiên toàn thể của Hội thảo.
Khuyến nghị yêu cầu khoa học giáo dục ưu tiên những vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lâu dài đối với con người và sự phát triển của đất nước; được xác định rõ, có thể nghiên cứu bằng phương pháp phù hợp và gắn với bối cảnh Việt Nam.
Các hướng nghiên cứu được đề xuất gồm thiết kế dạy học dựa trên bằng chứng và mô hình học tập cá nhân hóa; năng lực số, năng lực AI và phát triển nghề nghiệp của nhà giáo; quản trị dựa trên dữ liệu, đạo đức AI và chính sách giáo dục số; đánh giá người học và liêm chính học thuật trong bối cảnh phát triển công nghệ và AI.
Từ yêu cầu “Chọn đúng”, Khuyến nghị đặt tiếp yêu cầu “Chứng cứ mạnh” để khoa học làm nền tảng cho chính sách và thực hành giáo dục.
Đổi mới dạy học, đánh giá và quản trị cần dựa trên bằng chứng đáng tin cậy và dữ liệu có chất lượng, bảo đảm yêu cầu đúng - đủ - sạch. Việc sử dụng bằng chứng phải gắn với bối cảnh, đạo đức và trách nhiệm giải trình; hỗ trợ phán đoán chuyên môn và quyền quyết định của con người.
Để tăng chất lượng bằng chứng, Khuyến nghị đề xuất tăng cường nghiên cứu thực chứng, bảo đảm chuẩn mực và sự phù hợp của phương pháp; phát triển hạ tầng nghiên cứu, hệ sinh thái dữ liệu và tổng hợp bằng chứng; bảo đảm minh bạch, đạo đức và trách nhiệm trong nghiên cứu.
Bằng chứng cần được sử dụng để lựa chọn, thí điểm và điều chỉnh chính sách, thực hành giáo dục. Đây là một trong những cơ sở để khoa học giáo dục thực hiện vai trò giải thích thực tiễn, dự báo thay đổi và định hướng chính sách.

Hội thảo còn có tọa đàm chuyên gia gồm 2 phiên thảo luận: “Định hướng nghiên cứu khoa học giáo dục Việt Nam đến năm 2035” và “Định hướng phát triển công nghệ giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên AI”.
Khuyến nghị đồng thời xác định khoa học giáo dục là hạ tầng tri thức của quốc gia. Phát triển khoa học giáo dục không chỉ nhằm tạo ra các công trình nghiên cứu mà còn phục vụ việc định hướng chính sách và kiến tạo tương lai giáo dục. Đầu tư cho nghiên cứu và đội ngũ giáo dục được xác định là nền tảng cho đổi mới bền vững.
Đưa tri thức vào thực tiễn
Nếu “Chọn đúng” và “Chứng cứ mạnh” đặt nền tảng cho hoạt động nghiên cứu, “Chủ động công nghệ” hướng tới năng lực làm chủ công nghệ giáo dục trong bối cảnh AI.
Theo Khuyến nghị, chủ động công nghệ cần được thể hiện ở năng lực làm chủ dữ liệu và mô hình, thiết kế giải pháp phục vụ việc học, đánh giá chất lượng và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Định hướng này bao gồm việc từng bước xây dựng đủ dữ liệu, mô hình, nền tảng và công nghệ giáo dục phù hợp với giáo dục Việt Nam. Các giải pháp cần dựa trên khoa học học tập, tôn trọng và phát triển năng lực tự học, tự điều chỉnh của người học trong bối cảnh AI.
Hiệu quả, an toàn, công bằng và bảo mật cần được kiểm định trước khi công nghệ được triển khai rộng rãi.
Đi cùng với chủ động công nghệ là yêu cầu “Cùng kiến tạo”. Khoa học giáo dục chỉ có thể tạo ra thay đổi lớn khi nhà khoa học, nhà trường, nhà quản lý, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia.

Hội thảo thu hút sự tham gia các nhà quản lý giáo dục, lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học, sở giáo dục và đào tạo, các nhà khoa học, chuyên gia và giảng viên trên cả nước.
Khuyến nghị đề xuất chuyển từ những hoạt động hợp tác riêng lẻ sang các chương trình đồng thiết kế - đồng nghiên cứu - đồng thử nghiệm - đồng đánh giá - đồng chia sẻ kết quả.
Các cơ sở đào tạo giáo viên, cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục cần được kết nối để đồng nghiên cứu, thử nghiệm và cải tiến thực hành. Hợp tác nghiên cứu giữa nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp, phát triển cộng đồng học thuật và tăng cường hợp tác quốc tế được xác định là những nội dung cần thúc đẩy.
Đích đến của quá trình này là “Chuyển giao tri thức”. Khuyến nghị xác định thước đo cuối cùng của khoa học giáo dục không chỉ là số lượng công trình hay công bố, mà là tri thức tạo ra thay đổi như thế nào trong lớp học, nhà trường, chính sách và đời sống.
Kết quả nghiên cứu cần được đưa từ nghiên cứu vào nhà trường, chính sách, cộng đồng và đời sống.
Để tri thức đi vào cuộc sống, cần phát triển cơ chế chuyển giao tri thức, thúc đẩy ứng dụng và cải tiến liên tục, đánh giá tác động và nhân rộng kết quả nghiên cứu.
Khuyến nghị Đà Nẵng 2026 đặt 5C trong một chỉnh thể, lấy con người làm chủ thể, sự phát triển của người học làm trung tâm, chất lượng khoa học làm nền tảng và giá trị giáo dục làm đích đến. Cộng đồng khoa học giáo dục và các bên liên quan được kêu gọi cụ thể hóa 5C bằng cam kết, hợp tác và hành động phù hợp với vai trò của mình.

