'Độ trễ' nghị quyết và mệnh lệnh hành động - Bài 1: Điểm nghẽn của sự phát triển
LTS: Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập tầm nhìn với nhiều quyết sách lịch sử. Điểm nghẽn căn bản nhất hiện nay không nằm ở đường lối, mà chính là khâu thực thi. Vệt bài đã nhìn từ thực tiễn để chỉ ra hậu quả nhức nhối bấy lâu nay trong tổ chức thực hiện nghị quyết; luận giải nguyên nhân; nhấn mạnh sự chuyển hướng mạnh mẽ về tư duy, phương thức lãnh đạo của Đảng ta, trong đó kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn bộ hệ thống chính trị.
Nhìn vào thực tiễn, chúng ta thấy rõ một thực trạng: Khoảng cách từ nhiều nghị quyết của Đảng đến cuộc sống vẫn chưa được thu hẹp như kỳ vọng. “Độ trễ” ấy không chỉ làm chậm nhịp phát triển mà còn trở thành một điểm nghẽn cần được nhìn thẳng, chỉ rõ và khắc phục.
Thước đo của năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản trị
Từ Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, một thông điệp lớn đã được đặt ra: Mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả; còn điểm nghẽn căn bản nhất hiện nay nằm ở khâu hành động. Hành động trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, niềm tin của nhân dân, là thành tố quyết định năng lực cầm quyền của Đảng. Đó không chỉ là một nhận định có tính tổng kết thực tiễn mà còn là một chỉ dấu rất rõ để nhìn vào căn bệnh kéo dài trong đời sống chính trị-xã hội: “Độ trễ” của nghị quyết.

Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, sáng 20-1. Ảnh: TTXVN
Nói cách khác, điều đáng băn khoăn hiện nay không phải là chúng ta thiếu nghị quyết. Trái lại, hệ thống nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng ngày càng đầy đủ, bao quát mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Vấn đề là chủ trương đúng, định hướng trúng, nhưng khi đi vào thực tiễn lại chậm được cụ thể hóa, chậm được thể chế hóa, chậm được triển khai thành những chương trình, kế hoạch, công việc cụ thể. Có nơi quán triệt rất kỹ, xây dựng kế hoạch khá bài bản, nhưng đến khâu tổ chức thực hiện thì bắt đầu vướng: Vướng hồ sơ, vướng thủ tục, vướng điều kiện đối ứng, vướng phối hợp giữa các cơ quan, hoặc vướng ngay ở tâm lý sợ trách nhiệm, không dám quyết, không dám làm.
Nhìn lại thực tiễn, có thể thấy “độ trễ” nghị quyết không phải hiện tượng mới. Nó từng được chỉ ra từ nhiều năm trước, khi có những nghị quyết được chuẩn bị công phu, chặt chẽ, nhưng khi triển khai thì lại vướng từ khâu nhận thức đến tổ chức thực hiện. Có những nghị quyết dài hàng chục trang A4, nội dung dàn trải, trùng lặp, nhắc lại ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực; tên gọi cũng na ná nhau, dễ dẫn tới tình trạng chồng chéo về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, gây khó cho việc triển khai trong thực tiễn.
Trường hợp ở Hà Tĩnh là một ví dụ. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 53/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt được ban hành với mục tiêu rất rõ là tiếp sức cho doanh nghiệp vận tải. Tuy vậy, trong bối cảnh hậu Covid-19, doanh nghiệp lại không đủ nguồn lực đối ứng để hấp thụ chính sách. 3 năm sau thời điểm ban hành, Nghị quyết 53 có tỷ lệ giải ngân 0%, có nghĩa là nghị quyết vẫn nằm trên giấy, không đến được với đối tượng thụ hưởng chính sách. Không chỉ Nghị quyết 53, một số nghị quyết của HĐND tỉnh sau khi ban hành cũng có tỷ lệ giải ngân thấp. Tương tự, Nghị quyết 97 về hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường giai đoạn 2023-2025, tại huyện Cẩm Xuyên (cũ), kết quả giải ngân năm 2023 đạt 0% do vướng từ khâu hồ sơ, nghiệm thu đến năng lực đối ứng của các hợp tác xã môi trường. Có thể thấy, chính sách không phải không đúng, nhưng khi điều kiện thực tế của đối tượng thụ hưởng không được tính hết, hoặc thủ tục thực hiện quá chặt, quá nhiều khâu, thì nghị quyết rất dễ rơi vào tình trạng “nằm trên giấy”.
Tại Nghệ An, Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND về một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh cũng từng được kỳ vọng sẽ tạo cú hích cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, qua giám sát thực tế, có địa phương chỉ thực hiện được một phần rất nhỏ trong tổng số các nhóm chính sách được thiết kế; có chính sách năm nào cũng bố trí vốn nhưng không thực hiện được; có nội dung hỗ trợ giải ngân rất chậm do thủ tục rườm rà, điều kiện đối ứng khó đáp ứng. Đây là một biểu hiện rất điển hình của tình trạng chủ trương đúng, thiết kế khá toàn diện, nhưng hiệu quả thực thi lại không cao.
Ở tầm rộng hơn, tình trạng “ban hành rồi nhưng còn phải chờ” cũng là một biểu hiện rất rõ của "độ trễ" thực thi. Trên diễn đàn Quốc hội, trong các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của nhiều nhiệm kỳ trước, nợ đọng văn bản là một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm; nhiều giải pháp đã có nhưng tồn tại này vẫn chưa được khắc phục triệt để, kéo theo hệ quả là luật, nghị quyết đã có hiệu lực nhưng khâu tổ chức thi hành phía dưới bị ách lại. Đây là dạng “độ trễ” mang tính hệ thống: Chủ trương ở trên đã có, nhưng càng xuống dưới càng chậm vì khâu cụ thể hóa không theo kịp.
Ngay trong cải cách hành chính và chuyển đổi số, "độ trễ" ấy cũng biểu hiện không kém phần rõ ràng. Dịch vụ công trực tuyến được đẩy mạnh, quy trình số hóa ngày càng được nhắc tới nhiều, nhưng thực tế cho thấy tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình còn thấp, việc sử dụng vẫn chưa thật sự thuận tiện đối với người dân. Điều đó cho thấy đầu tư hạ tầng, xây dựng cổng dịch vụ công hay số hóa quy trình mới chỉ là điều kiện cần; còn điều kiện đủ là thay đổi cách xử lý công việc, thay đổi tư duy phục vụ, để người dân không còn phải đi lại nhiều lần hay thực hiện song song cả quy trình điện tử lẫn giấy tờ truyền thống.
Từ những ví dụ trên có thể thấy, khoảng trống từ nghị quyết đến cuộc sống trong nhiều trường hợp không nằm ở ý chí chính trị hay ở câu chữ của văn bản, mà nằm ở chính khâu tổ chức thực hiện. Chỉ cần một khâu chậm, một cấp ngại trách nhiệm, một thủ tục rườm rà, một cơ chế phối hợp thiếu thông suốt thì cả quá trình có thể bị nghẽn lại. Cái giá của sự chậm trễ vì thế không chỉ là tỷ lệ giải ngân thấp hay số lượng chính sách thực hiện chưa đạt; nghiêm trọng hơn, nó làm mất thời cơ, làm tăng chi phí xã hội, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và khiến người dân, doanh nghiệp chậm được thụ hưởng những gì nghị quyết đã hứa hẹn mang lại.
Suy cho cùng, nghị quyết là để hành động chứ không phải để tồn tại như một văn bản hoàn chỉnh về mặt hình thức. Giá trị của nghị quyết không nằm ở chỗ văn phong trau chuốt, bố cục chặt chẽ mà quan trọng là được kiểm nghiệm bằng kết quả cụ thể trong thực tiễn, bằng chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế-xã hội và bằng sự hài lòng ngày càng cao của nhân dân. Đại hội XIV của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tinh thần đó. Đây là bước chuyển đáng chú ý về tư duy, từ chỗ coi việc ban hành nghị quyết là trọng tâm sang coi hiệu quả thực hiện nghị quyết mới là thước đo chủ yếu của năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản trị.
Hậu quả của sự chậm trễ
Khi khoảng cách từ nghị quyết đến cuộc sống kéo dài, hệ lụy không dừng lại ở việc một mục tiêu chậm hoàn thành hay một chỉ tiêu chưa đạt được. Cái giá phải trả lớn hơn nhiều. Trước hết, đó là sự lãng phí thời gian, mà trong phát triển, thời gian là nguồn lực đặc biệt. Mỗi chủ trương đúng nếu chậm đi vào thực tiễn là một cơ hội bị bỏ lỡ; mỗi chính sách chậm được cụ thể hóa là một nhịp phát triển bị chậm lại; mỗi sự chần chừ trong tổ chức thực hiện là một phần nguồn lực xã hội bị ách tắc. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang định hình rất nhanh tương lai của các quốc gia, chậm một bước có khi không chỉ là chậm mà là hụt cả một giai đoạn phát triển.
Hệ lụy thứ hai là làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo, cầm quyền. Một đảng cầm quyền không chỉ được đánh giá ở năng lực đề ra đường lối đúng mà còn ở năng lực biến đường lối ấy thành chuyển biến cụ thể trong đời sống. Nếu nghị quyết cứ đúng trên giấy nhưng yếu trong thực thi, nếu chủ trương đã rõ mà kết quả vẫn mờ nhạt, nếu giữa nói và làm còn một khoảng cách lớn thì tự thân điều đó đã là một lực cản đối với uy tín và hiệu lực lãnh đạo. Đại hội XIV nhấn mạnh phải kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng “nói nhiều làm ít”, “nói hay, làm dở”, “nói không đi đôi với làm”, chấm dứt lối làm việc quan liêu, hình thức.
Hệ lụy thứ ba, sâu xa hơn, là làm bào mòn niềm tin của nhân dân. Người dân và doanh nghiệp cảm nhận nghị quyết qua những gì họ được thụ hưởng trong đời sống hằng ngày: Thủ tục có thông thoáng hơn không, dịch vụ công có tốt hơn không, cơ hội phát triển có rộng mở hơn không, những điểm nghẽn cũ có được tháo gỡ không... Khi các quy định không được thực thi, các chủ trương bị ách tắc, các dự án bị đình trệ thì người “chịu trận” trước hết là người dân và doanh nghiệp. Ở một bình diện khác, “độ trễ” nghị quyết còn tạo ra một thứ quán tính nguy hiểm trong đời sống tổ chức: Quen với việc ban hành văn bản hơn là đo đếm kết quả; quen với việc báo cáo tiến độ hơn là truy đến cùng hiệu quả; quen với việc nói về quyết tâm hơn là chứng minh bằng chuyển biến cụ thể.
Tóm lại, “độ trễ” nghị quyết không chỉ là một hạn chế trong tổ chức thực hiện mà đã trở thành lực cản đối với sự phát triển. Khi điểm nghẽn không nằm ở đường lối mà nằm ở khâu đưa đường lối vào cuộc sống, việc tiếp tục ban hành thêm nghị quyết sẽ không đủ để tạo ra chuyển biến. Điều cần hơn là làm sao để mỗi nghị quyết ngay từ khi ban hành đã tạo ra kết quả cụ thể, có thể đo đếm và cảm nhận được. Từ nhận diện đó, vấn đề đặt ra không thể dừng lại ở việc chỉ ra thực trạng, mà phải đi tiếp một bước: Biến nghị quyết thành hành động, thành chuyển động thực chất của cả hệ thống. Đây cũng chính là yêu cầu mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
(còn nữa)











