Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình góp ý nhiều nội dung quan trọng tại phiên thảo luận Tổ với 3 dự án Luật và Nghị quyết

Chiều 21/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023. Sau đó, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thảo luận tại Tổ về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị; dự thảo Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp; việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.

Toàn cảnh phiên họp buổi chiều.

Toàn cảnh phiên họp buổi chiều.

Đoàn chủ tọa tại phiên họp.

Đoàn chủ tọa tại phiên họp.

Đại biểu tham dự phiên họp.

Đại biểu tham dự phiên họp.

Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình thảo luận tại Tổ số 10 cùng Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La.

Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình thảo luận tại Tổ số 10 cùng Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La.

Đồng chí Mai Văn Tuất, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh chủ trì phiên thảo luận Tổ.

Đồng chí Mai Văn Tuất, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh chủ trì phiên thảo luận Tổ.

Tại Tổ số 10, Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình và Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La tham gia thảo luận dưới sự chủ trì của đồng chí Mai Văn Tuất, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh. Tham dự phiên thảo luận có đồng chí Lê Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội cùng các vị đại biểu Quốc hội.

Các ý kiến của đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình tập trung vào những vấn đề có tác động trực tiếp đến tính khả thi, công bằng, thống nhất của chính sách; đồng thời đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định để hạn chế khoảng trống pháp lý và chủ động xử lý các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

Cần thiết kế chính sách giảm thuế công bằng, tránh “bẫy quy mô”

Tham gia góp ý dự thảo Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp, các đại biểu cơ bản thống nhất với chủ trương sử dụng chính sách tài khóa để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, nhất là khu vực doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Đồng thời, tập trung cho ý kiến cụ thể vào một số vấn đề như: căn cứ xác định ngưỡng doanh thu để được hưởng ưu đãi; mức giảm thuế 30%; bảo đảm nguyên tắc công bằng trong chính sách thuế; nguy cơ phát sinh “điểm gãy” khi doanh nghiệp vừa vượt ngưỡng doanh thu; chi phí tuân thủ thuế; tác động của chính sách đến ngân sách nhà nước và yêu cầu theo dõi, đánh giá hiệu quả sau khi chính sách được thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Ninh Bình đã phân tích và cho ý kiến cụ thể về ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng - ranh giới để xác định doanh nghiệp thuộc diện được hưởng chính sách giảm thuế. Theo đại biểu, đây mới là một ngưỡng hành chính, trong khi cần có cơ sở thuyết phục để chứng minh doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng thực sự thuộc nhóm gặp khó khăn cần được hỗ trợ. Nếu chỉ căn cứ vào doanh thu để xác định mức độ ưu đãi thì chính sách có thể chuyển từ hỗ trợ theo mức độ khó khăn sang hỗ trợ theo quy mô doanh thu. Vì vậy, cần làm rõ cơ sở xác định ngưỡng 10 tỷ đồng và đánh giá đầy đủ tác động của việc lựa chọn ngưỡng này.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Hà đồng thời lưu ý đến nguyên tắc công bằng trong chính sách thuế. Việc giảm đồng loạt 30% thuế cho một nhóm đối tượng cần được thiết kế chặt chẽ, tránh tình trạng “ưu đãi chồng ưu đãi”, đồng thời không tạo động cơ để doanh nghiệp điều chỉnh quy mô, doanh thu chỉ nhằm được hưởng chính sách.

Đáng chú ý, đại biểu phân tích nguy cơ hình thành “bẫy quy mô” khi doanh nghiệp ở hai phía của ngưỡng 10 tỷ đồng có thể chịu cách biệt lớn về chính sách thuế. Theo đó, doanh nghiệp có doanh thu 9,8 tỷ đồng được giảm 30% thuế, trong khi doanh nghiệp có doanh thu 10,1 tỷ đồng lại không được hưởng chính sách, dù mức chênh lệch doanh thu không lớn. Đại biểu cho rằng cách thiết kế này có thể tạo tâm lý doanh nghiệp không muốn vượt qua ngưỡng để tiếp tục được hưởng ưu đãi, đi ngược mục tiêu khuyến khích doanh nghiệp phát triển về quy mô.

Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị đánh giá kỹ tác động của việc giảm thuế đối với ngân sách nhà nước. Theo phương án được trình, ngân sách dự kiến giảm thu khoảng 6.700 tỷ đồng trong quý III, quý IV năm 2026 và cả năm 2027. Việc nguồn lực này quay trở lại nền kinh tế là một khả năng tích cực, nhưng không thể mặc nhiên đồng nhất giảm thuế với tăng đầu tư, bởi doanh nghiệp có thể sử dụng phần thuế được giảm để trả nợ, bổ sung thanh khoản hoặc xử lý công nợ trong ngắn hạn. Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị cần thiết kế chính sách sao cho khoản ưu đãi 30% thực sự tạo ra động lực tăng trưởng bền vững thay vì chỉ tạo ra một khoản hỗ trợ tài chính trong thời gian ngắn.

Cùng tham gia thảo luận, các đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp hợp lý, có thể thiết kế theo hướng mức thuế giảm dần khi doanh thu tăng lên, thay vì tạo ra một ranh giới cứng giữa các nhóm doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, giảm chi phí tuân thủ và chi phí đầu vào để nguồn lực từ chính sách giảm thuế thực sự trở thành nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Khu đô thị lấn biển phải gắn với quy hoạch, quốc phòng, an ninh và quyền lợi cộng đồng

Đối với cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, các đại biểu thống nhất việc nghiên cứu, bổ sung cơ chế đặc thù là cần thiết nhằm khai thác hiệu quả không gian biển, mở rộng không gian phát triển đô thị, huy động nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách. Tuy nhiên, các ý kiến đề nghị dự thảo cần tiếp tục làm rõ khái niệm khu đô thị lấn biển; bảo đảm thống nhất với hệ thống quy hoạch, nhất là Quy hoạch không gian biển quốc gia; rà soát tỷ lệ và điều kiện chuyển nhượng một phần dự án; đồng thời có quy định chặt chẽ để bảo đảm trách nhiệm xuyên suốt của nhà đầu tư chiến lược. Một số đại biểu cũng đặt vấn đề về quản trị rủi ro đối với những dự án có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài. Trường hợp dự án đã hình thành một phần đảo nhân tạo, công trình bảo vệ bờ hoặc hạ tầng nhưng không thể tiếp tục thực hiện thì cần có cơ chế xử lý rõ ràng, xác định trách nhiệm của nhà đầu tư, phương án bảo đảm an toàn, môi trường biển và không để rủi ro chuyển sang ngân sách nhà nước.

Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ

Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ

Đại biểu Trần Thị Hồng Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình đã đề nghị bổ sung yêu cầu hoạt động lấn biển phải phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia, qua đó bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tránh xung đột trong quá trình triển khai. Đại biểu cũng đề nghị rà soát quy định cho phép nhà đầu tư chiến lược chuyển nhượng một phần dự án không quá 50% diện tích đất khu đô thị lấn biển đã xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Cơ quan soạn thảo cần cân nhắc kỹ tỷ lệ này để vừa tạo điều kiện huy động nguồn lực, vừa bảo đảm mục tiêu lựa chọn nhà đầu tư chiến lược có năng lực và trách nhiệm xuyên suốt đối với dự án. Đại biểu cũng đề xuất nghiên cứu sửa tỷ lệ diện tích đất được phép chuyển nhượng từ “không quá 50%” thành “dưới 50%”, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư chiến lược đối với các cam kết ban đầu với Nhà nước, tránh việc lợi dụng cơ chế đặc thù để chuyển giao phần lớn dự án cho nhà đầu tư khác.

Bảo đảm cơ sở pháp lý xuyên suốt khi tách dự án điện hạt nhân

Đối với dự thảo Nghị quyết về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập, các đại biểu cho rằng việc ban hành nghị quyết nhằm tháo gỡ các vướng mắc, tạo cơ sở pháp lý để xác định rõ mục tiêu, phạm vi, chủ đầu tư, nguồn vốn, phương thức và tiến độ thực hiện từng dự án. Các ý kiến tập trung vào việc hoàn thiện căn cứ pháp lý; quy định về thời điểm hết hiệu lực của Nghị quyết số 41/2009/QH12 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận; cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; nguồn vốn và quyết toán vốn; cũng như việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt sau khi tách dự án.

Đại biểu Phạm Hùng Thắng, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Phạm Hùng Thắng, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Tham gia ý kiến vào dự thảo, đại biểu Phạm Hùng Thắng, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình đề nghị rà soát, bổ sung đầy đủ các nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có liên quan trực tiếp đến quá trình quyết định chủ trương, tiếp tục triển khai và áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt đối với Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Theo đại biểu, việc này nhằm bảo đảm tính kế thừa, liên tục và thống nhất của cơ sở pháp lý khi tách dự án.

Về nội dung quy định hiệu lực của Nghị quyết số 41/2009/QH12. Dự thảo quy định nghị quyết này hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đại biểu cho rằng cần cân nhắc kỹ thời điểm này, bởi hai dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 có thể có tiến độ phê duyệt khác nhau. Nếu Nghị quyết số 41 hết hiệu lực ngay khi Ninh Thuận 1 được phê duyệt chủ trương đầu tư, trong khi Ninh Thuận 2 chưa được phê duyệt, có thể phát sinh khoảng trống pháp lý đối với dự án còn lại. Đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định Nghị quyết số 41 chỉ hết hiệu lực khi cả Dự án Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đã được phê duyệt chủ trương đầu tư, hoặc có quy định chuyển tiếp bảo đảm cơ sở pháp lý cho Dự án Ninh Thuận 2.

Tán thành với quy định áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, đại biểu Phạm Hùng Thắng đề nghị không nên áp dụng đồng loạt cho tất cả các dự án sau khi tách, bởi mỗi dự án có tính chất, mục tiêu, nguồn vốn, phương thức đầu tư và chủ đầu tư khác nhau. Đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát, xác định cụ thể cơ chế áp dụng chung, cơ chế áp dụng riêng cho từng dự án và những cơ chế cần sửa đổi, bổ sung để bảo đảm chính sách được áp dụng đúng đối tượng, đúng mục tiêu và khả thi trong thực tiễn.

Đại biểu Phạm Trọng Cường, Ủy viên, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Phạm Trọng Cường, Ủy viên, ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Phạm Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Văn hóa Xã hội HĐND tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Phạm Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Văn hóa Xã hội HĐND tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Trần Thế Anh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Đại biểu Trần Thế Anh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Tổ.

Ngày mai 22/8, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại Hội trường về một số dự án Luật.

Hồng Giang

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/doan-dbqh-tinh-ninh-binh-gop-y-nhieu-noi-dung-quan-trong-tai-phien-thao-luan-to-260821183021147.html