Doanh nghiệp cần giữ vai trò trung tâm trong đổi mới sáng tạo
Muốn đưa nghiên cứu khoa học vào sản xuất và kinh doanh, cần tăng vai trò đặt hàng, đầu tư và tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế hợp tác.
Chiều 28/10, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh và Hội Thiết bị Y tế TP. Hồ Chí Minh, tổ chức tọa đàm “Doanh nghiệp đồng hành với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo”. Một trong những nội dung trọng tâm của tọa đàm là làm rõ vai trò của doanh nghiệp trong việc định hướng nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đưa kết quả khoa học vào thực tiễn.
Tham luận về “Vai trò của doanh nghiệp trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo”, PGS.TS. Đặng Xuân Cường, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh, cho rằng mối liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Mối liên kết này chỉ phát huy hiệu quả khi mỗi bên xác định rõ vai trò, trách nhiệm và lợi ích trong quá trình hợp tác.

PGS.TS. Đặng Xuân Cường, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại toạ đàm.
Đưa nghiên cứu đến gần nhu cầu thị trường
Theo PGS.TS. Đặng Xuân Cường, nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học có nguy cơ rơi vào tình trạng kết quả chỉ dừng ở bài báo hoặc báo cáo nghiệm thu, chưa chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Trong khi đó, doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tiếp cận thị trường, nắm bắt nhu cầu khách hàng, những vướng mắc trong sản xuất và áp lực cạnh tranh.
Vì vậy, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu, từ xác định vấn đề, đặt hàng đề tài đến thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ. Khi hướng nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, khả năng ứng dụng sẽ có cơ sở rõ ràng hơn, đồng thời giảm nguy cơ đầu tư vào những kết quả khó thương mại hóa.
Thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ nguồn lực để tự tổ chức hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Theo tham luận, hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hạn chế về tài chính, nhân lực chuyên môn và hạ tầng nghiên cứu khiến nhiều doanh nghiệp khó xây dựng bộ phận R&D riêng hoặc duy trì đội ngũ chuyên gia công nghệ.
Đây là lý do hợp tác với trường đại học và viện nghiên cứu cần được thúc đẩy. Thay vì mỗi bên tự đầu tư toàn bộ nguồn lực, doanh nghiệp có thể đặt hàng giải quyết bài toán kỹ thuật, còn cơ sở nghiên cứu đóng góp năng lực chuyên môn, nhân lực và thiết bị. Cách làm này giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức và công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để hoạt động nghiên cứu gắn chặt hơn với nhu cầu sản xuất.

PGS.TS. Đặng Xuân Cường chia sẻ tại phiên đối thoại doanh nghiệp, nhà khoa học.
Tuy nhiên, để hợp tác hiệu quả, hai bên cần vượt qua khác biệt về mục tiêu và cách thức làm việc. Doanh nghiệp thường quan tâm đến thời gian triển khai, chi phí và khả năng tạo ra sản phẩm; trong khi nghiên cứu khoa học đòi hỏi quy trình kiểm chứng và có thể phát sinh những kết quả không như dự kiến. Việc thống nhất yêu cầu đầu ra, tiến độ, nguồn lực và cách xử lý rủi ro ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế khoảng cách này.
Hợp tác và dùng chung nguồn lực nghiên cứu
Một hướng được PGS.TS. Đặng Xuân Cường đề xuất là mở rộng mô hình phòng thí nghiệm và không gian nghiên cứu dùng chung giữa trường đại học với doanh nghiệp. Ông dẫn các mô hình quốc tế như Stanford Research Park tại Mỹ, hay hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Đại học Quốc gia Singapore, cho thấy việc đặt hoạt động nghiên cứu gần doanh nghiệp và kết nối với các nguồn lực đầu tư có thể tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghệ, khởi nghiệp và thương mại hóa.
Đối với Việt Nam, mô hình dùng chung có thể giúp giảm áp lực đầu tư thiết bị riêng lẻ, đồng thời tạo môi trường để giảng viên, nhà khoa học, sinh viên và kỹ sư doanh nghiệp cùng tham gia giải quyết những vấn đề thực tế. Doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công nghệ mới, còn nhà trường có thêm điều kiện cập nhật yêu cầu sản xuất và nâng cao tính ứng dụng của chương trình đào tạo.

Các sinh viên đạt giải trong cuộc thi Nghiên cứu khoa học - Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh.
Sự tham gia của doanh nghiệp cũng cần mở rộng sang đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp có thể phối hợp xây dựng chương trình, cử chuyên gia hướng dẫn đồ án, tiếp nhận sinh viên thực tập và tạo điều kiện để người học làm quen với công nghệ, quy trình sản xuất. Qua đó, khoảng cách giữa kiến thức được trang bị trong nhà trường và yêu cầu tại nơi làm việc có thể được thu hẹp.
Ở chiều ngược lại, các trường và viện nghiên cứu cần tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được chuyển giao thuận lợi hơn. Theo tham luận, thủ tục định giá và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ cần rõ ràng; tiêu chí đánh giá hoạt động chuyên môn cũng nên ghi nhận kết quả chuyển giao công nghệ và hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp, bên cạnh công bố khoa học.
Những thay đổi này có thể tạo thêm động lực để nhà khoa học theo đuổi các đề tài gắn với nhu cầu thực tế, đồng thời giúp doanh nghiệp có cơ sở rõ hơn khi quyết định đầu tư vào nghiên cứu. Để doanh nghiệp thực sự tham gia vào hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, cơ chế chính sách cần khuyến khích các bên cùng đầu tư, thay vì chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước hoặc yêu cầu doanh nghiệp tự gánh toàn bộ chi phí.
Trong bài tham luận của mình, PGS.TS. Đặng Xuân Cường đề xuất xem xét cơ chế tài trợ đồng đầu tư giữa Nhà nước và doanh nghiệp đối với các nhiệm vụ nghiên cứu do doanh nghiệp đặt hàng, trong đó doanh nghiệp có phần vốn đối ứng thực tế. Ông cũng nêu các giải pháp về ưu đãi thuế cho chi phí R&D, tín dụng ưu đãi đối với dự án đổi mới công nghệ và sản xuất xanh. Bên cạnh đó, việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích từ kết quả nghiên cứu phải được thống nhất từ đầu.

