Doanh nghiệp nhỏ 'ngại' vay vốn

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn khó tiếp cận vốn hoặc ngán ngại vì lãi suất còn rất cao.

“Đã qua rồi thời tiền rẻ”, ông Lê Mai Hữu Lâm, Tổng giám đốc Công ty CP Sản xuất thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi nhận định khi nói về bài toán chi phí vốn mà doanh nghiệp sản xuất đang phải đối mặt.

Theo ông Lâm, trong lĩnh vực sản xuất thiết bị điện công nghiệp, biên lợi nhuận trung bình chỉ khoảng 7% đã được xem là mức “đẹp” đối với một doanh nghiệp quản trị tốt. Với mặt bằng lãi vay hiện nay dao động 13 - 14%/năm, bài toán đặt ra khá nghịch lý: doanh nghiệp càng vay nhiều để mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ thì áp lực chi phí tài chính càng đè nặng lên biên lợi nhuận vốn đã mỏng.

Bản thân Cát Vạn Lợi hiện đang tiếp cận được nguồn vốn vay từ một ngân hàng nước ngoài với lãi suất ưu đãi hơn, khoảng 7%/năm cho các khoản vay ngắn hạn. Nhưng ngay cả với mức lãi suất được xem là dễ chịu này, doanh nghiệp vẫn không tránh khỏi áp lực cạnh tranh khi phải đối đầu trực tiếp với hàng nhập khẩu, vốn đến từ các nhà sản xuất nước ngoài có lợi thế vượt trội về chi phí vốn.

“Chủ trương giảm lãi suất, đưa dòng tiền vào sản xuất kinh doanh, hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất đúng đắn. Nhưng điều doanh nghiệp quan tâm nhất là làm sao để chính sách không chỉ nằm trên giấy, mà thực sự đi vào cuộc sống, đến được với từng doanh nghiệp”, ông Lâm nhấn mạnh.

Bên trong nhà máy Công ty CP Sản xuất thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi. Ảnh: DN.

Bên trong nhà máy Công ty CP Sản xuất thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi. Ảnh: DN.

Lãi suất cao, doanh nghiệp chuyển sang “ăn đong”

Theo ông Lâm, hiện không thiếu lời mời vay vốn từ ngân hàng nhưng doanh nghiệp lại ngần ngại.

“Nhiều doanh nghiệp bạn bè tôi bây giờ cũng chỉ muốn duy trì sản xuất trong khả năng vốn tự có, chứ không dám vay để mở rộng. Vay tiền mà làm không hiệu quả thì càng làm càng lỗ. Thậm chí bây giờ có khi còn đi chơi tennis, pickleball chứ làm thêm lại lỗ”, ông Lâm chia sẻ.

Từ thực tế đó, ông Lâm cho rằng bài toán vốn đang là một trong những rào cản lớn nhất đối với kế hoạch mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.

Ông dự báo hoạt động kinh doanh có thể vẫn còn khó khăn trong năm nay và cả năm tới, trong bối cảnh bất ổn kinh tế và địa chính trị trên thế giới chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Khi được hỏi về lãi suất và chuyện vay vốn, ông Phạm Quang Anh, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất may mặc Dony, cười nói: “Tôi cai nghiện ngân hàng lâu rồi”.

Câu trả lời nghe vui nhưng đằng sau lại là một quyết định khá nghiêm túc của doanh nghiệp sau những biến động mạnh của thị trường tiền tệ vài năm qua. Theo ông Quang Anh, điều khiến doanh nghiệp mệt mỏi không chỉ là lãi suất cao mà còn là việc lãi suất biến động quá khó lường.

“Lãi suất biến động không phải ít mà rất lớn, khiến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trở nên cực kỳ khó khăn”, ông nói. Vì vậy, doanh nghiệp chọn cách giảm dần dư nợ, rồi tiến tới không còn sử dụng vốn vay ngân hàng. “Cho tới thời điểm này thì tôi không vay ngân hàng một đồng nào nữa”, ông chia sẻ.

Nhưng không vay ngân hàng không có nghĩa bài toán vốn biến mất. Ngược lại, khi không còn dư địa để dựa vào đòn bẩy tài chính, doanh nghiệp phải tự đặt ra giới hạn cho tốc độ tăng trưởng.

Từ cuối năm ngoái đến nay, Công ty TNHH Sản xuất may mặc Dony đã "cai nghiện" vốn vay ngân hàng. Ảnh: Quốc Hải.

Từ cuối năm ngoái đến nay, Công ty TNHH Sản xuất may mặc Dony đã "cai nghiện" vốn vay ngân hàng. Ảnh: Quốc Hải.

Có đơn hàng, nhưng nếu thiếu vốn thì không thể nhận hết. “Nếu thiếu vốn thì Dony chỉ có thể nhận đơn hàng trong khả năng của mình thôi. Năng lực sản xuất được bao nhiêu thì nhận đơn hàng bấy nhiêu”, ông Quang Anh nói.

Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khác cũng thừa nhận, không phải ngân hàng đóng cửa với doanh nghiệp, mà chính doanh nghiệp đang ngại mở cửa bước vào.

“Vốn thì ngân hàng không hạn chế, nhưng lãi suất cao quá nên ai cũng sợ”, ông Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Công ty Cao su Đức Minh, Chủ tịch Hội Cao su nhựa TP.HCM, nói khi được hỏi về khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Đây không còn là câu chuyện riêng của ngành cao su, nhựa mà là tâm lý chung của nhiều doanh nghiệp. Với Đức Minh, lãi suất vay ngắn hạn hiện đã trên 10%. Vốn vẫn có thể vay, nhưng chi phí quá cao khiến doanh nghiệp phải cân nhắc từng khoản vay.

“Lãi vay cao quá thì mình đi vay ít lại. Thế thôi”, ông nói.

Nhưng vay ít không chỉ có nghĩa là giảm dư nợ. Lãi suất cao đang buộc doanh nghiệp thay đổi cả cách mua nguyên liệu, sản xuất và quản lý hàng tồn kho.

Theo ông Quốc Anh, trước đây, khi vốn rẻ, doanh nghiệp có thể vay tiền mua nguyên liệu với số lượng lớn, vừa chủ động sản xuất vừa tranh thủ khi giá nguyên liệu còn tốt. Bây giờ, cách làm này trở nên đắt đỏ. Nguyên liệu nằm trong kho cũng đồng nghĩa với tiền vay nằm đó và mỗi ngày phải chịu thêm chi phí lãi.

“Bây giờ lãi suất cao quá thì không vay để mua, trữ vật tư nữa. Mình ‘ăn đong’ thôi”, ông Quốc Anh nói.

Nói đơn giản là khi cần đến đâu mua đến đó, có nguyên liệu bao nhiêu thì làm bấy nhiêu. Doanh nghiệp chấp nhận bớt chủ động về nguồn hàng để đổi lấy việc giảm áp lực vốn.

“Hồi trước lãi suất rẻ thì doanh nghiệp mua nhiều, trữ nguyên liệu để sản xuất. Bây giờ lãi suất cao quá thì thôi, không trữ nữa. Khi nào cần thì mua, có bao nhiêu làm bấy nhiêu”, ông giải thích.

Một thay đổi tưởng như nhỏ trong cách mua nguyên liệu lại cho thấy lãi suất đang đi thẳng vào hoạt động của doanh nghiệp. Không chỉ khiến doanh nghiệp vay ít hơn, vốn đắt còn làm họ phải giữ tồn kho thấp hơn, tính toán kỹ hơn từng đơn hàng và thận trọng hơn với những kế hoạch cần bỏ vốn trước.

Đổi lại, doanh nghiệp cũng phải chấp nhận một phần cơ hội có thể đi qua. Không có sẵn nguyên liệu trong kho thì khó tranh thủ những thời điểm giá tốt; không mạnh dạn vay thì cũng khó mở rộng nhanh khi đơn hàng tăng.

Trên thực tế, theo báo cáo chuyên sâu của FiinGroup mới đây về thực trạng, rào cản và tiềm năng tiếp cận vốn của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tại Việt Nam cho thấy, mặc dù khối SME chiếm tới 94% tổng số doanh nghiệp cả nước với khoảng 914.000 doanh nghiệp, nhưng chỉ có 20,5% số doanh nghiệp này đang tiếp cận được vốn vay, tương đương 187.000 doanh nghiệp. Gần 80% doanh nghiệp SME còn lại chưa ghi nhận nợ vay.

Khoảng cách càng rõ nếu nhìn theo quy mô. Theo đó, chỉ 8,8% doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận được vốn vay. Với nhóm nhỏ và vừa, tỷ lệ này tăng lên 30,9%. Trong khi đó, ở doanh nghiệp lớn, tỷ lệ lên tới 61,4%.

Vốn vì thế vẫn là một trong những chiếc “phanh” khiến khu vực SME khó lớn nhanh.

Giải bài toán vốn thế nào?

Thực tế, theo FiinGroup ước tính hơn 40% doanh nghiệp SME đã hoạt động trên 5 năm, có mức rủi ro trung bình và thấp nhưng vẫn chưa tiếp cận được vốn ngân hàng.

Đáng chú ý, khoảng 51.000 doanh nghiệp trong số này vừa có dòng tiền kinh doanh dương, vừa tăng trưởng doanh thu. Nói cách khác, họ đã làm ăn đủ lâu, hoạt động cốt lõi vẫn tạo ra tiền và doanh thu còn tăng, nhưng vẫn chưa dùng đến đòn bẩy ngân hàng. Đây là nhóm đáng để ngân hàng nhìn lại. Nếu chỉ nhìn vào tài sản thế chấp, họ có thể bị bỏ qua. Nhưng nếu nhìn vào dòng tiền, lịch sử hoạt động và sức khỏe kinh doanh, câu chuyện có thể rất khác.

Ngành thương mại là một ví dụ. Với khoảng 275.000 doanh nghiệp và dư nợ khoảng 481.000 tỷ đồng, đây là một thị trường tín dụng lớn. Biên lợi nhuận gộp của ngành khoảng 11,6%. Dù chỉ 23,4% doanh nghiệp có dòng tiền kinh doanh dương, vẫn còn khoảng 70.000 SME rủi ro thấp chưa tiếp cận vốn vay.

Có thể đây chính là phần thị trường mà ngân hàng đang bỏ sót nếu vẫn đánh giá doanh nghiệp theo những “chiếc khuôn” tín dụng cũ.

Bài toán vì vậy không chỉ nằm ở chuyện giảm lãi suất hay nới điều kiện vay. Quan trọng hơn là ngân hàng cần thay đổi cách nhìn về một doanh nghiệp nhỏ. Một SME không nhất thiết phải có nhà xưởng hay bất động sản để thế chấp mới chứng minh được mình có khả năng trả nợ. Một doanh nghiệp thương mại có thể không có nhiều tài sản cố định nhưng mỗi ngày vẫn có dòng tiền từ hàng trăm, hàng nghìn giao dịch. Một nhà sản xuất có thể không sở hữu nhiều đất đai nhưng lại có đơn hàng đều, hợp đồng đầu ra ổn định và lịch sử thanh toán tốt.

Những thứ đó đều nói lên sức khỏe thật của doanh nghiệp. Vấn đề là ngân hàng có đủ dữ liệu và công cụ để nhìn thấy "mỏ vàng" này hay không?.

Theo FiinGroup, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể kết hợp dữ liệu hóa đơn điện tử, dòng tiền tài khoản, lịch sử thanh toán, hợp đồng kinh tế và dữ liệu chuỗi cung ứng với các mô hình chấm điểm tín dụng, AI-ML để đánh giá khả năng trả nợ.

Khi đó, cách cho vay cũng có thể thay đổi từ chờ doanh nghiệp mang tài sản đến xin vay sang chủ động tìm những doanh nghiệp đang làm ăn tốt nhưng chưa được phục vụ đúng nhu cầu vốn.

Theo FiinGroup, chỉ có 20,5% số doanh nghiệp SME đang tiếp cận được vốn vay. Ảnh: Quốc Hải.

Theo FiinGroup, chỉ có 20,5% số doanh nghiệp SME đang tiếp cận được vốn vay. Ảnh: Quốc Hải.

Muốn thay đổi cách nhìn và cách cho vay như vậy, tất nhiên không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của từng ngân hàng. Chính sách cũng phải mở đường.

Trong góp ý sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng việc dự thảo chỉ dừng ở mức “khuyến khích” các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính phát triển sản phẩm phù hợp với SME là chưa đủ.

Bởi nếu chỉ khuyến khích, ngân hàng vẫn có thể chọn cách an toàn nhất là cho vay dựa vào tài sản thế chấp. Muốn dòng vốn thực sự đi vào khu vực SME, theo VCCI, cần thêm những công cụ đủ sức tạo động lực để ngân hàng mạnh dạn cho vay.

Từ đó, VCCI đề xuất ưu đãi về nguồn tái cấp vốn, thuế thu nhập doanh nghiệp; đồng thời xây dựng các chương trình tín dụng ưu tiên, ổn định cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng và nông nghiệp công nghệ cao.

Nhưng với doanh nghiệp, vay được tiền mới chỉ là bước đầu. Họ còn phải biết tiền vay có giá bao nhiêu và có thể sử dụng trong bao lâu. Vì vậy, theo VCCI, giá vốn và thời hạn vay cần bám sát chu kỳ kinh doanh, để doanh nghiệp có thể tính được chi phí ngay từ khi nhận đơn hàng, thay vì đang làm ăn lại phải thấp thỏm vì lãi suất thay đổi.

Cùng với giá vốn, VCCI muốn thay đổi cả cách ngân hàng nhìn một doanh nghiệp.

Thay vì quá phụ thuộc vào bất động sản thế chấp, việc thẩm định nên nhìn nhiều hơn vào dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, các khoản phải thu và lịch sử tuân thủ. Một doanh nghiệp có thể không có nhiều đất để thế chấp nhưng lại có đơn hàng đều, khách hàng tốt và dòng tiền quay vòng ổn định. Đó cũng là những dữ liệu rất đáng giá để đánh giá khả năng trả nợ.

Theo hướng này, phạm vi tài sản bảo đảm cũng cần được mở rộng sang máy móc, thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu, các khoản phải thu. Cùng với đó là các hình thức tài trợ chuỗi cung ứng, tài trợ theo hợp đồng và đơn hàng.

Nhìn từ thực tế kinh doanh, đây là hướng đi đáng chú ý. Bởi với một SME, thứ tạo ra tiền để trả nợ nhiều khi không nằm ở mảnh đất hay căn nhà đang sở hữu, mà nằm trong chính đơn hàng đang chạy, hàng hóa đang quay vòng và khoản phải thu sắp về.

Nếu thay đổi được cách nhìn này, bài toán tín dụng SME sẽ không còn đơn giản là “làm sao cho vay nhiều hơn”. Quan trọng hơn là ngân hàng phải nhận diện đúng doanh nghiệp, hiểu đúng nhu cầu và đưa đúng dòng vốn vào đúng thời điểm.

Khi đó, khoảng cách giữa “ngân hàng có vốn” và “doanh nghiệp cần vốn” mới thực sự được thu hẹp.

TS Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, cho hay nhìn vào thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thấy nhu cầu vay vốn chủ yếu nằm ở vốn lưu động, chứ không phải những khoản đầu tư lớn. Nói thẳng ra, nhiều SME hiện cũng chưa đủ điều kiện và chưa đủ sức để vay những khoản vốn trung, dài hạn cho các dự án đầu tư.

Thế nhưng, ngay với nhu cầu vốn lưu động, doanh nghiệp lại chưa có nhiều sản phẩm tín dụng thực sự phù hợp.

Theo ông Điền, ngân hàng thường ưu tiên doanh nghiệp lớn, nhất là những khách hàng có dự án đầu tư bài bản và nhu cầu vay trung, dài hạn. Khi một phần đáng kể nguồn vốn đã được phân bổ cho nhóm này, phần dành cho SME trở nên hạn chế hơn. Chi phí vốn theo đó cũng cao hơn. Doanh nghiệp nào chấp nhận được thì vay, còn không thì đành xoay xở bằng vốn tự có.

“Cách tiếp cận này đang gây bất lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Điền nhận xét.

Theo ông Điền, với SME, ngân hàng nên tập trung nhiều hơn vào các khoản vay vốn lưu động ngắn hạn. Ngân hàng Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế để các tổ chức tín dụng dành một tỷ lệ nhất định nguồn vốn cho nhóm doanh nghiệp này.

Quan trọng hơn, cách thẩm định cũng cần phù hợp với đặc thù của SME. Với khoản vay vốn lưu động, không nhất thiết lúc nào ngân hàng cũng phải yêu cầu tài sản thế chấp. Nếu doanh nghiệp có hợp đồng đầu ra rõ ràng, dòng tiền ổn định hoặc duy trì hoạt động tốt trong một, hai năm, đó cũng có thể là những căn cứ quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp có đơn hàng chắc chắn, biết khi nào thu tiền và có lịch sử kinh doanh ổn định thì khoản vay ngắn hạn để nhập nguyên liệu, sản xuất hàng hóa hay thực hiện đơn hàng thực chất đã có một nguồn trả nợ khá rõ.

“Vốn lưu động về bản chất là khoản vay ngắn hạn”, ông Điền nói. Vì vậy, nếu doanh nghiệp chứng minh được khả năng tạo dòng tiền và trả nợ thì không nhất thiết phải đặt nặng câu chuyện tài sản thế chấp.

Từ góc nhìn này, ông cho rằng cần có cơ chế đủ rõ để ngân hàng mạnh dạn cho SME vay, đồng thời dành một nguồn vốn nhất định để hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này. Không phải cứ ép ngân hàng cho vay nhiều hơn, mà phải giúp ngân hàng có cơ sở để cho vay đúng loại vốn và đúng đối tượng.

Còn với những khoản vay trung, dài hạn để đầu tư, ông Điền cho rằng doanh nghiệp không nên quá phụ thuộc vào ngân hàng. Theo thông lệ quốc tế, khi muốn mở rộng nhà máy, đầu tư dự án hay tăng quy mô dài hạn, nguồn vốn chủ sở hữu của cổ đông nên đóng vai trò chính.

Theo đó, doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn từ các cổ đông, kêu gọi đối tác góp vốn hoặc tìm nhà đầu tư cùng tham gia. Khi đã có nền vốn chủ sở hữu đủ chắc, doanh nghiệp mới sử dụng vốn vay ngân hàng như một đòn bẩy để mở rộng.

Còn trong hoạt động hằng ngày, khi dòng tiền tạm thời thiếu hụt hoặc cần tiền để nhập hàng, mua nguyên liệu, thực hiện đơn hàng, vốn vay ngân hàng mới phát huy đúng vai trò của nó.

Theo ông Điền, tách bạch hai nhu cầu vốn như vậy sẽ tốt cho cả hai phía: doanh nghiệp không phải “gánh” những khoản vay dài hạn quá sức, còn ngân hàng giảm được rủi ro khi cho vay. Vốn đầu tư nên đi cùng sức mạnh của vốn chủ sở hữu; vốn ngân hàng nên đi sát với dòng tiền của hoạt động kinh doanh.

Quốc Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/doanh-nghiep-nho-ngai-vay-von-d47610.html