Doanh nghiệp niêm yết lãi lớn, tại sao khối ngoại vẫn miệt mài 'xả hàng'?
Một ngân hàng vừa báo lãi tăng 44% trong quý III/2026 vẫn bị bán ròng hàng trăm tỷ đồng nay trong phiên. Phía sau nghịch lý ấy là câu chuyện về lợi suất, tỷ giá và cuộc dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu.
Chỉ tính riêng hai phiên giao dịch trong tuần đầu tiên của tháng 11, MBB gây chú ý khi trở thành cổ phiếu bị khối ngoại bán ròng mạnh nhất thị trường với khoảng 25 triệu cổ phiếu, tương đương khoảng 450 tỷ đồng.
Động thái xả hàng diễn ra ngay sau khi ngân hàng này công bố lợi nhuận quý III/2026 tăng tới 44,3% so với cùng kỳ, đẩy thị giá MBB giảm hơn 5% chỉ sau vài phiên.
Theo thống kê của Chứng khoán HD (HDS), nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng gần 5 tỷ USD trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2026; riêng tháng 10 rút ròng khoảng 1 tỷ USD và tuần đầu tháng 11 tiếp tục bán thêm 1.300 tỷ đồng. Tỷ lệ sở hữu của khối ngoại vì thế thu hẹp nhanh chóng từ mức 17% (năm 2024) xuống 15% (năm 2025) và hiện chỉ còn khoảng 13%.
Việc dòng vốn ngoại liên tục rời đi trong bối cảnh lợi nhuận quý III của các doanh nghiệp niêm yết tăng trưởng hơn 37% đặt ra câu hỏi lớn: Điều gì đang khiến những kết quả kinh doanh tích cực trở nên kém hấp dẫn trong mắt các quỹ đầu tư quốc tế?
Khi lãi tăng không giữ được giá
Nhìn vào diễn biến thị trường sau mùa công bố báo cáo tài chính quý III, nghịch lý “lãi tăng, giá giảm” không chỉ diễn ra ở những mã bị khối ngoại bán mạnh như MBB.
Khi dòng tiền ngoại liên tục rút ra làm suy yếu lực đỡ ở nhóm cổ phiếu trụ, tâm lý thận trọng và xu hướng “tin ra là bán” cũng lan sang dòng tiền trong nước, khiến phần lớn cổ phiếu không giữ được giá dù báo lãi cao.
Thống kê đến đầu tháng 11 cho thấy, trong nhóm ngân hàng, có tới 21/25 nhà băng ghi nhận lợi nhuận quý III tăng trưởng dương so với cùng kỳ, nhưng 18 cổ phiếu lại giảm giá kể từ sau khi công bố kết quả kinh doanh.
Đơn cử, lợi nhuận LPB tăng 28,9% nhưng thị giá mất 14,6%; VPB giảm 12% bất chấp lợi nhuận khả quan; hay BID tăng 39,9% lợi nhuận nhưng cổ phiếu vẫn lùi 6,6%.

Ông Hiếu cho rằng làn sóng bán ròng xuất phát từ sự thay đổi trong tương quan lợi suất và rủi ro trên thị trường tài chính toàn cầu. Ảnh: HDS
Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở nhóm bán lẻ và tiêu dùng. Trong 10 doanh nghiệp có lợi nhuận tăng trưởng, 6 cổ phiếu đi lùi với biên độ giảm sâu hơn mức chung của VN-Index.
Cụ thể, MSN báo lãi tăng gấp ba lần nhưng cổ phiếu giảm 5,8%; FRT tăng gấp đôi lợi nhuận nhưng thị giá mất 7,8%; MWG và VNM cũng giảm lần lượt 4,7% và 3% dù lợi nhuận tăng tương ứng 74,7% và 17,3%.
Ngay cả mức định giá P/E của VN-Index hiện đã lùi về quanh 11 lần – thấp hơn đáng kể so với mức bình quân lịch sử 14–15 lần – vẫn chưa đủ sức kích hoạt dòng tiền bắt đáy.
Bởi với các định chế tài chính, định giá cổ phiếu không đứng độc lập mà luôn được đặt lên bàn cân với mặt bằng lãi suất, chi phí vốn và lợi suất từ các kênh tài sản khác trên toàn cầu.
Lý giải hiện tượng trên, ông Bùi Quốc Hiếu, Giám đốc Khối Nghiên cứu và phân tích đầu tư HDS, chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự dịch chuyển tương quan lợi suất và rủi ro toàn cầu.
Khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ duy trì ở mức cao, các quỹ đầu tư có xu hướng ưu tiên phân bổ vốn vào những tài sản định giá bằng USD có độ an toàn cao, thay vì gánh chịu rủi ro tại các thị trường mới nổi và cận biên.
Bên cạnh đó, áp lực tỷ giá và chi phí phòng ngừa rủi ro ngoại hối (hedging) cũng trực tiếp bào mòn thành quả đầu tư. Do hiệu suất của quỹ ngoại cuối cùng phải quy đổi về đồng USD, biến động tỷ giá bất lợi sẽ thu hẹp đáng kể tỷ suất sinh lời thực nhận, dù doanh nghiệp bản địa vẫn tăng trưởng tốt bằng nội tệ.
Để minh họa tác động của chi phí vốn lên định giá, ông Đồng Trần Quốc Bảo, Giám đốc Khối Kinh doanh HDS, đưa ra bài toán theo mô hình chiết khấu cổ tức Gordon.
Giả sử một doanh nghiệp tạo ra dòng cổ tức kỳ vọng 125 tỷ đồng vào năm tới và duy trì tốc độ tăng trưởng đều đặn 5%/năm. Nếu nhà đầu tư yêu cầu tỷ suất sinh lời 15%, doanh nghiệp này được định giá 1.250 tỷ đồng.
Nhưng khi rủi ro vĩ mô và lãi suất đẩy tỷ suất sinh lời yêu cầu lên 20%, mức định giá lập tức lùi về khoảng 833 tỷ đồng – tức bốc hơi hơn 33% giá trị, dù năng lực tạo tiền và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp không hề thay đổi.
Thực tế, làn sóng rút vốn không chỉ diễn ra tại Việt Nam. Báo cáo của Vietcap cho thấy khối ngoại cũng đã bán ròng 5,6 tỷ USD tại Indonesia và 771 triệu USD tại Philippines, trong khi chỉ mua ròng 617 triệu USD tại Thái Lan.

Đa phần các ngành ghi nhận mức lợi nhuận tăng trưởng trong quý III/2026. Ảnh: HDS
Ngoài yếu tố vĩ mô quốc tế, thị trường Việt Nam còn đang chịu tác động từ quá trình tái cơ cấu danh mục của các quỹ đầu tư thị trường cận biên (Frontier Markets).
Khi Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển giao để nâng hạng lên thị trường mới nổi theo tiêu chí FTSE, nhiều quỹ chuyên đầu tư thị trường cận biên chủ động cơ cấu lại hoặc hạ tỷ trọng, trong khi dòng vốn từ các quỹ bám sát rổ chỉ số mới nổi vẫn cần chờ thời điểm nâng hạng chính thức để giải ngân.
Nhìn nhận về "khoảng trống" chuyển giao này, ông Lê Anh Tuấn, Tổng giám đốc Dragon Capital Việt Nam, cho rằng không nên đánh giá xu hướng bán ròng hoàn toàn theo góc độ bi quan.
Việc tỷ lệ sở hữu nước ngoài giảm về mức 13% đồng nghĩa lượng vốn của nhóm các quỹ ngoại ngắn hạn muốn thoái lui đã thu hẹp đáng kể. Khi cơ cấu sở hữu ngoại tiệm cận vùng ổn định, áp lực cung sẽ dịu dần trước khi thị trường đón nhận làn sóng vốn mới từ câu chuyện nâng hạng.
Ai đón phần cổ phiếu bị bán ra?
Trong suốt 10 tháng qua, khi khối ngoại rút ròng gần 5 tỷ USD còn dòng vốn nâng hạng chưa thể nhập cuộc ngay, chính nhà đầu tư trong nước là lực lượng đối ứng đã hấp thụ trọn vẹn lượng cung khổng lồ này, giữ cho thị trường không rơi vào các nhịp gãy đổ sâu.
Số liệu từ Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) cho thấy tính đến cuối tháng 9/2026, thị trường có hơn 14,07 triệu tài khoản chứng khoán nội địa (tăng hơn 2,2 triệu tài khoản so với đầu năm), trong đó nhà đầu tư cá nhân chiếm tới 14,05 triệu tài khoản.

Nhà đầu tư trong nước duy trì hấp thụ phần lớn nguồn cung cổ phiếu. Ảnh: Hoàng Anh
Tuy nhiên, sức hấp thụ của dòng tiền nội đang bộc lộ những giới hạn nhất định trong ngắn hạn. Số lượng tài khoản mở mới tăng nhanh không đồng nghĩa với lượng tiền mặt thực tế nạp vào thị trường tăng tương ứng. Sau khi VN-Index lùi từ vùng đỉnh và đi ngang với thanh khoản thấp, dòng tiền cá nhân bắt đầu chịu áp lực từ mặt bằng chi phí vốn nhích lên.
Trước bối cảnh đó, ông Đồng Trần Quốc Bảo khuyến nghị nhà đầu tư cá nhân nên thận trọng khi giải ngân mới và hạn chế sử dụng đòn bẩy ký quỹ (margin). Thị trường cần thêm thời gian để thanh khoản ổn định trở lại, qua đó xác nhận dòng tiền nội đã thích nghi hoàn toàn với mặt bằng lãi suất mới.
Về dài hạn, cú hích nâng hạng thị trường sẽ mở ra cánh cửa đón dòng vốn ngoại thế hệ mới, nhưng để giữ chân dòng tiền bền vững, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn cần sự kết hợp đồng bộ giữa ổn định vĩ mô, kiểm soát rủi ro tỷ giá và duy trì chất lượng tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp.



