Doanh nghiệp nông nghiệp trăn trở trước bài toán đầu tư cho công nghệ

Công nghệ là chìa khóa để nông nghiệp bứt phá, rút ngắn khoảng cách từ trang trại đến tay người tiêu dùng. Song, để tiến xa hơn, doanh nghiệp nông nghiệp vẫn còn đối diện với hàng loạt rào cản về tài chính, đất đai, liên kết vùng nguyên liệu,… cần được tháo gỡ.

Đó là những trăn trở mà ông  Bùi Khánh Dũng – Tổng Giám đốc Công ty Musa Bacta chia sẻ cùng VnBusiness bên lề “Diễn đàn kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới”.

Ông  Bùi Khánh Dũng – Tổng Giám đốc Công ty Musa Bacta

Ông  Bùi Khánh Dũng – Tổng Giám đốc Công ty Musa Bacta

Thưa ông, ông có thể chia sẻ về câu chuyện chuyển đối số tại Musa Bacta. Theo ông, đâu là cơ hội và khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp nông nghiệp trong chuyển đổi số?

-Nhờ ứng dụng chuyển đổi số và AI, thời gian qua, Musa Bacta có thể tiết kiệm khá nhiều trong chi phí đầu tư vận hành, đồng thời giúp chúng tôi có hệ thống quản trị thông minh, nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong sản xuất kinh doanh.

Tôi cho rằng chuyển đổi số đã giúp nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp có thể đi thẳng từ “farm” (trang trại) đến bàn ăn, tức là tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Đây là lợi thế khá lớn, giúp doanh nghiệp rút ngắn quá trình đưa sản phẩm ra thị trường.

Đối với Musa Pacta, chúng tôi là một trong những doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam sản xuất sợi chuối và các sản phẩm từ sợi chuối nên cũng gặp những khó khăn riêng về thị trường. Và, thực tế cho thấy các thị trường xuất khẩu đánh giá và mua sản phẩm của chúng tôi còn nhiều hơn thị trường nội địa.

Được biết, hiện nay, doanh nghiệp đang sở hữu một số vùng nguyên liệu thông qua mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và vùng trồng, ở đó có bà con nông dân. Ông có thể nói thêm về điều này?

-Tôi là thành viên và là người sáng lập 5 HTX nông nghiệp tại một số địa phương, như Hải Dương (cũ), Lào Cai, Hà Giang, Huế, Kiên Giang (cũ).

Từ thực tế sản xuất, tôi cho rằng liên kết giữa hộ nông dân, vùng trồng và HTX hiện vẫn còn lỏng lẻo, thậm chí gần như một chiều. Doanh nghiệp hoặc HTX thường là bên phải chịu trách nhiệm nhiều hơn.

Ví dụ, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng bao tiêu trong 3 năm và thống nhất giá. Nhưng chỉ cần giá nông sản bên ngoài tăng thêm 500-1.000 đồng/kg thì doanh nghiệp có thể lập tức không còn nguyên liệu, trong khi nhà máy, xưởng sản xuất đã đầu tư xong.

Tức là khi giá xuống thì doanh nghiệp có nguyên liệu, nhưng khi giá lên lại không có nguyên liệu. Đây là một vấn đề rất lớn đang diễn ra tại nhiều địa phương, sau câu chuyện liên kết vùng nguyên liệu.

Nguyên nhân để xảy ra tình trạng trên là do việc thực thi trách nhiệm pháp lý đối với từng hộ nông dân rất khó. Khi xảy ra tranh chấp dân sự với giá trị chỉ vài triệu đồng thì gần như không ai muốn đưa nhau ra tòa.

Vì vậy, tôi cho rằng cần có cơ chế để doanh nghiệp được tự đầu tư hoặc đầu tư một phần vào vùng nguyên liệu. Nếu doanh nghiệp có thể tự chủ khoảng 30-50% vùng nguyên liệu thì áp lực từ phía hộ dân sẽ giảm xuống và chuỗi sản xuất cũng ổn định hơn.

Từ thực tế trên, ông nhìn nhận thế nào về vai trò của HTX trong việc phát triển chuỗi liên kết với doanh nghiệp. Theo ông, cơ chế chính sách cần thay đổi theo hướng nào để thúc đẩy mô hình này?

-Xét đến cùng, vấn đề vẫn nằm ở cơ chế. Khi có một cơ chế thực sự phù hợp thì mô hình HTX sẽ có cơ hội phát triển rất lớn.

Một vấn đề cần nhìn nhận lại là khái niệm “tài sản” trong HTX. Ví dụ, doanh nghiệp hoặc một thành viên có công nghệ trồng chuối ít sâu bệnh, công nghệ giúp cây sai trái hay một bằng sáng chế, vậy những thứ đó có phải là tài sản hay không? Nếu được xác định là tài sản thì phải định giá như thế nào và ai định giá?

Khi những tài sản như trí tuệ, công nghệ, sáng chế có thể được xác định và ghi nhận trong quá trình góp vốn thì mới thực sự hình thành được tinh thần “góp công, góp của” trong HTX, thay vì mọi đóng góp đều chỉ quy đổi thành tiền.

Tôi từng tìm hiểu các mô hình HTX tại Israel và Thụy Điển và nhận thấy điều quan trọng là cơ chế để bảo đảm quyền tài sản và trách nhiệm của thành viên.

HTX không nhất thiết phải là một mô hình lớn. Thậm chí chỉ cần 3-4 người có một lượng vốn nhỏ cũng có thể thành lập và tổ chức sản xuất, kinh doanh. Khi người lao động đồng thời là thành viên và chủ của hoạt động sản xuất, họ sẽ có động lực trực tiếp để duy trì mô hình.

Vì vậy, tôi cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để bảo đảm quyền về tài sản và trách nhiệm của các thành viên. Khi những vấn đề này được tháo gỡ, cơ hội phát triển của kinh tế tập thể và HTX là rất lớn.

Tại Musa Pacta, câu chuyện tiếp cận nguồn vốn đang được nhìn nhận như thế nào, đặc biệt khi mà lãi suất liên tục "nóng" như thời gian qua, thưa ông?

-Đây thực sự là một áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp trên cả hai phương diện là tài sản thế chấp và mặt bằng lãi suất.

Tài sản lớn nhất của doanh nghiệp nông nghiệp thường nằm trên đất, cụ thể là ở ngoài ruộng. Nhưng ngay cả việc sở hữu đất đai hoặc chứng minh mảnh ruộng đó thuộc quyền sử dụng của mình cũng rất khó. Cây trồng có thể là tài sản của doanh nghiệp nhưng đất lại thuộc về người khác, vì vậy việc sử dụng tài sản này để thế chấp vay vốn gặp nhiều trở ngại.

Chúng tôi có thể có hàng trăm tấn nông sản, đây rõ ràng là tài sản, nhưng để dùng lượng hàng hóa đó làm tài sản thế chấp cho khoản vay vẫn rất khó khăn.

Trong khi đó, gần như chưa có một cơ chế riêng hoàn toàn về lãi suất hoặc hình thức vay dành cho nông nghiệp. Doanh nghiệp nông nghiệp gần như phải vay với điều kiện tương tự các doanh nghiệp thương mại khác.

Hiện nay, một số khoản vay của chúng tôi có mức lãi suất thấp nhất khoảng 7,8% tại Agribank, trong khi các khoản vay thương mại ở một số ngân hàng khác lên tới gần 16%. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là áp lực không hề nhỏ.

Vậy, ông có kiến nghị gì để các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp có thêm cơ hội phát triển vùng nguyên liệu, tiếp cận vốn và mở rộng sản xuất?

-Tôi cho rằng trước hết cần quan tâm đến bảo hiểm nông nghiệp. Hiện nay, bảo hiểm nông nghiệp chưa thực sự đi vào đời sống sản xuất. Trong khi người làm nông luôn phải đối diện với rủi ro thời tiết, dịch bệnh.

Thứ hai là cần có chính sách vốn phù hợp hơn, đặc biệt đối với những doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, phát triển sản phẩm, sản xuất tuần hoàn, không rác thải và không phát thải. Những doanh nghiệp hướng đến kinh tế xanh cần có cơ chế tín dụng phù hợp hơn.

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ bài toán đất đai để doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư vùng nguyên liệu với thời hạn đủ dài. Nếu doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư nhưng không có cơ sở pháp lý để chứng minh quyền đối với tài sản trên đất thì rất khó tiếp cận tín dụng và mở rộng sản xuất.

Cuối cùng, cần có cơ chế thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân. Khi doanh nghiệp có thể chủ động một phần vùng nguyên liệu, HTX được nâng cao năng lực và các bên cùng chia sẻ trách nhiệm, lợi ích thì chuỗi liên kết mới có thể ổn định và phát triển bền vững.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Hương (thực hiện)

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/doanh-nghiep-nong-nghiep-tran-tro-truoc-bai-toan-dau-tu-cho-cong-nghe.html