Doanh nghiệp xây lắp vẫn chật vật dù đầu tư công cán mốc lịch sử
Đầu tư công đang trở thành lực kéo quan trọng nhất cho triển vọng của ngành xây dựng và vật liệu xây dựng trong năm 2026, nhưng không phải ai cũng được hưởng lợi.

Ngành xây dựng vẫn chật vật dù đang đứng trước một thị trường lớn hiếm có. Ảnh minh họa: Việt Dương
Làn sóng hạ tầng lan tỏa toàn chuỗi giá trị
Kế hoạch đầu tư công năm 2026 ở mức 1,02 triệu tỷ đồng, lớn nhất từ trước tới nay. Lũy kế 8 tháng, giải ngân đạt 509.558 tỷ đồng, tương đương 49,8% kế hoạch. Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030 được xác định ở mức 8,22 triệu tỷ đồng, gấp 2,86 lần giai đoạn 2021 - 2025.
Nếu trong những chu kỳ trước, đầu tư công chủ yếu được nhìn nhận là cơ hội của các nhà thầu xây dựng, thì ở giai đoạn hiện nay, tác động đã lan rộng ra toàn bộ chuỗi giá trị.
Từ nhóm nhà thầu xây dựng như Coteccons, Vinaconex, Fecon và Hòa Bình, Phục Hưng, Đèo Cả, CII tới các nhà sản xuất vật liệu như Hòa Phát, Xi măng Hà Tiên, Nhựa Tiền Phong đều gắn định hướng kinh doanh năm nay với đầu tư công và các dự án hạ tầng trọng điểm.
Trong công bố gần đây, Coteccons đã tiết lộ bước vào niên độ mới với giá trị hợp đồng tồn đọng khoảng 51.600 tỷ đồng và đã vượt 62.000 tỷ đồng vào giữa niên độ. Quy mô này lớn hơn 1,7 lần doanh thu của cả niên độ trước, tạo cơ sở cho mục tiêu doanh thu kỷ lục 30.000 tỷ đồng.
Tương tự, Xây dựng Hòa Bình cũng sở hữu lượng hợp đồng tồn đọng hơn 15.700 tỷ đồng vào cuối năm 2025, sau khi trúng thầu 13.450 tỷ đồng trong năm. Doanh nghiệp đặt mục tiêu đưa doanh thu năm 2026 lên 10.000 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi, dù lợi nhuận sau thuế dự kiến giữ ở mức 250 tỷ đồng.
Trong khi đó, CII bước vào giai đoạn đầu tư mới với dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận có tổng mức đầu tư khoảng 37.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp đã thu xếp hạn mức tín dụng hợp vốn 27.000 tỷ đồng, được đánh giá là khoản tín dụng lớn nhất từng dành cho một dự án BOT giao thông tại Việt Nam.
Ngoài ra, CII còn nghiên cứu dự án quốc lộ 51 trên cao với tổng vốn khoảng 16.300 tỷ đồng và các mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng tại TP.HCM.
Các hợp đồng đã ký của Tổng công ty xây dựng 1 (CC1) dự kiến đạt được trong năm 2026 là 50.000 tỷ đồng, bao gồm nhiều dự án đầu tư công trọng điểm như sân bay Long Thành, nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1, Na Dương 2 và các gói thầu cao tốc Bắc – Nam.
Trong khi đó, với Vinaconex, ngay đầu năm 2026, số hợp đồng xây lắp theo ban lãnh đạo công ty công bố đã ký đạt 16.753 tỷ đồng, trong đó 2/3 là các dự án đầu tư công.

Backlog một số nhà thầu xây lắp. Nguồn: TCBS
Ở nhóm cung cấp vật liệu xây dựng, nhu cầu thép, xi măng và ống nhựa từ các công trình giao thông trọng điểm được kỳ vọng tạo ra thị trường nội địa đủ lớn để bù đắp một phần khó khăn tại các thị trường xuất khẩu.
Hòa Phát tiếp tục là đầu tàu khi đặt mục tiêu sản lượng gần 15 triệu tấn thép trong năm 2026, tăng xấp xỉ 40% so với năm trước. Riêng nửa đầu năm, tập đoàn đã sản xuất gần 7 triệu tấn thép thô, tăng 36% bên cạnh lượng bán HRC, thép xây dựng, thép chất lượng cao và phôi thép đạt 6,5 triệu tấn, tăng 32%.
Tập đoàn cũng xác định thị trường nội địa là trọng tâm khi nhu cầu từ hạ tầng, giao thông và xây dựng trong nước phục hồi.
Không chỉ tăng sản lượng, Hòa Phát còn chuẩn bị cho một lớp nhu cầu mới đến từ các dự án hạ tầng có yêu cầu kỹ thuật cao. Tập đoàn đang đầu tư nhà máy sản xuất thép ray và thép đặc biệt tại Dung Quất, dự kiến cho ra sản phẩm thép ray từ quý II/2027, hướng tới phục vụ các dự án đường sắt trọng điểm trong nước.
Xi măng cũng bắt đầu cảm nhận rõ hơn lực kéo từ đầu tư hạ tầng. Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng tiêu thụ sản phẩm chính của VICEM đạt 13,38 triệu tấn (tăng 11,4% so với cùng kỳ), riêng tiêu thụ xi măng trong nước tăng 13,3%. Tổng công ty cho biết đang tập trung cung ứng cho các dự án đầu tư công và hạ tầng trọng điểm để mở rộng thị phần.
Nhựa Tiền Phong cũng đặt mục tiêu sản lượng tiêu thụ năm nay đạt 148.000 tấn, tăng 11,8%, với doanh thu 7.330 tỷ đồng. Nhu cầu ống nhựa cho cấp thoát nước, đô thị và các công trình hạ tầng vì thế có thêm dư địa tăng trưởng khi quy mô đầu tư xây dựng tiếp tục mở rộng.
Vẫn khó cải thiện biên lợi nhuận

Quy mô đầu tư công kỷ lục không đồng nghĩa lợi nhuận của toàn ngành xây dựng sẽ cùng tăng theo một đường thẳng.
Thống kê của VietstockFinance cho thấy, trong quý II/2026, doanh thu và lãi ròng của 100 doanh nghiệp xây dựng tăng lần lượt 12% và 52%, nhưng mức tăng không đồng đều, chủ yếu đến từ các nhà thầu quy mô lớn và vừa, trong khi doanh thu của nhiều nhà thầu nhỏ suy giảm.
Trong số 100 doanh nghiệp thống kê có tới một nửa số doanh nghiệp ghi nhận biên lợi nhuận gộp giảm.
Bà Nguyễn Thị Kiều Hạnh, Trưởng nhóm phân tích VIS Rating cho hay, bất chấp nhu cầu thị trường ở mức cao, khả năng cải thiện biên lợi nhuận của các doanh nghiệp đang bị kìm hãm bởi áp lực chi phí hiện hữu.
Chi phí nhân công tăng, giá vật liệu xây dựng cơ bản leo thang như giá thép xây dựng tăng 8 -10% và giá xi măng tăng 3-4% so với cùng kỳ đang bào mòn lợi nhuận của các nhà thầu.
Nhiều nhà thầu lớn có khả năng chống chịu tốt hơn nhờ năng lực lựa chọn dự án, vị thế đàm phán và lợi thế khi mua nguyên vật liệu với khối lượng lớn, nhưng các nhà thầu nhỏ lại dễ bị tổn thương hơn trước biến động chi phí.
Theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam, không có nhiều dư địa để thương lượng lại giá hợp đồng, năng lực dự trữ vật liệu hạn chế và phụ thuộc lớn vào dòng tiền thanh toán khiến chỉ một biến động nhỏ về giá đầu vào cũng có thể làm suy giảm đáng kể biên lợi nhuận.
"Đây là lý do doanh thu tăng chưa chắc đồng nghĩa lợi nhuận sẽ cải thiện tương ứng", ông Hiệp đánh giá.
Cũng cần lưu ý rằng, không chỉ biến động vật liệu, dòng tiền cũng là vấn đề đáng chú ý. Đặc thù của ngành xây dựng là doanh nghiệp thường phải ứng vốn trước cho nhân công, vật tư và máy móc trong khi quá trình nghiệm thu, thanh toán có độ trễ. Khi quy mô dự án ngày càng lớn, nhu cầu vốn lưu động cũng tăng tương ứng.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp đồng thời tham gia nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. Giá trị hợp đồng tồn đọng hàng chục nghìn tỷ đồng tạo ra nguồn việc trong nhiều năm, nhưng cũng đồng nghĩa doanh nghiệp phải duy trì một lượng vốn rất lớn để triển khai.
Trong khi đó, về mặt nguồn vốn, tín dụng vẫn sẵn sàng nhưng các ngân hàng đang thể hiện khẩu vị rủi ro chọn lọc hơn. Tính đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng đối với ngành xây dựng tăng 6,36% so với thời điểm cuối năm 2025, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng 8,37% của toàn hệ thống ngân hàng. Tín dụng cho ngành này chỉ chiếm khoảng 7,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, gần như không thay đổi so với cuối năm trước.
Trong khi đó, ở kênh trái phiếu doanh nghiệp, hoạt động phát hành mới khá ảm đạm. Trong nửa đầu năm 2026, chỉ ghi nhận 1.525 tỷ đồng trái phiếu được phát hành từ các tổ chức quen thuộc như Coteccons và Fecon, với mục đích chủ yếu là bổ sung vốn lưu động và tái cơ cấu nợ thay vì đầu tư mở rộng.
Ở chiều ngược lại, một vấn đề theo đánh giá của các chuyên gia tới từ chứng khoán TCBS, mặc dù có lượng backlog lớn nhưng một phần vốn vẫn chưa đi tới nhà thầu.
Tính đến ngày 30/6/2026, tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại Vietcombank (VCB), BIDV (BID) và VietinBank (CTG) đạt 556.511 tỷ đồng, tăng khoảng 150.000 tỷ đồng, tương đương 37% so với cuối năm 2025. Quy mô này tương đương khoảng 9,5% tổng tiền gửi khách hàng của ba ngân hàng.
Điều này tạo ra một nghịch lý, đầu tư công càng được bố trí lớn nhưng giải ngân chưa theo kịp, lượng tiền nằm tại ngân hàng càng nhiều, còn các khoản phải thu của các nhà thầu xây lắp ngày một lớn.
Tới cuối quý II/2026, các khoản phải thu ngắn hạn của hơn 100 doanh nghiệp xây lắp lên tới gần 133 ngàn tỷ đồng cùng gánh nặng nợ vay tăng mạnh. Mặc dù dư nợ vay toàn ngành chỉ tăng 5% so với cùng kỳ, chi phí vay cao hơn khiến chi phí lãi vay tăng tới 25% so với cùng kỳ. Hệ số bao phủ lãi vay, được đo bằng EBIT/lãi vay, giảm xuống gần 1,9 lần vào cuối quý II/2026, từ mức 2,7 lần vào cuối năm 2025.
Trong kiến nghị tại cuộc họp với Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc hồi giữa tháng 9/2026 vừa qua, đại diện CC1 nhấn mạnh các dự án hạ tầng thường có thời gian triển khai dài, yêu cầu vốn lưu động lớn và biên lợi nhuận xây lắp tương đối thấp.
Tuy nhiên, từ cuối tháng 2/2026 đến nay, do xung đột tại Trung Đông leo thang, giá vật liệu đã tăng đột biến. Có một số giai đoạn giá nhiên liệu giảm xuống, nhưng giá đá đến chân công trình không giảm tương ứng.
Giá vật liệu tại chỗ bị tác động bởi chi phí vận chuyển dẫn đến chỉ số giá được các địa phương công bố không theo kịp thực tế. Khi chủ đầu tư, nhà thầu thực hiện điều chỉnh giá theo quy định tại hợp đồng cũng không phản ánh đúng giá thị trường, gây thiệt thòi cho doanh nghiệp.
Nhìn chung, bài học của giai đoạn 2022 – 2024 cho thấy tăng trưởng doanh thu bằng mọi giá có thể khiến doanh nghiệp phải đánh đổi bằng công nợ lớn và bảng cân đối suy yếu.
Ở phía vật liệu, sự phân hóa cũng hiện hữu khi giá tăng không đồng nghĩa với lợi nhuận cao, nguyên nhân đến từ sự khác biệt về cơ cấu chi phí, công suất, thị trường tiêu thụ và khả năng chuyển phần tăng của giá nguyên liệu sang khách hàng. Đồng thời, dòng tiền cũng cần chờ tiến độ thi công và nghiệm thu của nhà thầu.
Bởi vậy, trong làn sóng đầu tư công, tốc độ tăng trưởng chưa phải tiêu chí duy nhất để đánh giá năng lực doanh nghiệp. Chất lượng doanh thu, khả năng chuyển backlog thành tiền, hiệu quả sử dụng vốn và mức độ kiểm soát công nợ mới là những thước đo có ý nghĩa dài hạn.
