Đổi mới để đưa nghiên cứu ra thị trường

Chế tạo được sản phẩm công nghệ nhưng doanh nghiệp vẫn trăn trở ai sẽ mua, ai sẽ sử dụng? Ngay cả trong một hệ sinh thái có đủ doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học, việc liên kết cũng không dễ dàng.

Thực tiễn cho thấy, muốn kết quả nghiên cứu đi vào sản xuất, kinh doanh và tạo ra giá trị, cần thay đổi cách tiếp cận: Bắt đầu từ nhu cầu thực tế và tính đến đầu ra ngay từ khi tổ chức nghiên cứu.

Xe thang cứu hộ của Công ty Cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa. Ảnh: PV

Xe thang cứu hộ của Công ty Cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa. Ảnh: PV

Những vấn đề từ thực tiễn

Phiên bản sản phẩm xe thang chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ tầm vươn 32m do Công ty Cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội sản xuất, được giới thiệu tại Triển lãm quốc tế về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2026 (Fire Safety & Rescue Vietnam - Secutech Vietnam 2026), diễn ra tại Hà Nội tháng 9-2026, là kết quả của sự kết hợp giữa nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, năng lực nghiên cứu của nhà trường và sự hỗ trợ của thành phố Hà Nội.

Tuy nhiên, tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ ngày 23-10, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa Đào Mạnh Hùng vẫn dành nhiều thời gian nói về khó khăn đầu ra cho sản phẩm.

Cũng tại hội nghị, đại diện Tập đoàn FPT cho biết, dù có đủ doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong cùng hệ sinh thái, sau một năm tìm cách tổ chức mô hình liên kết "ba nhà" ngay trong nội bộ, kết quả vẫn chưa đạt kỳ vọng. Từ trải nghiệm này, FPT cho rằng, các bên không thể chỉ đứng cạnh nhau mà phải thực sự gắn kết về mục tiêu, nguồn lực, lợi ích và trách nhiệm.

Hai câu chuyện từ những doanh nghiệp có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau cùng phản ánh một thực tế: Khoảng cách từ hợp tác nghiên cứu đến tạo ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến người sử dụng vẫn còn đáng kể.

Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2021-2025, trong số 1.451 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia được tổng hợp, chỉ có 181 nhiệm vụ do doanh nghiệp chủ trì, chiếm 12,5%. Năm 2023, kinh phí nghiên cứu và phát triển mà các viện, trường nhận từ doanh nghiệp trong nước chỉ khoảng 179 tỷ đồng, bằng khoảng 1/40 kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tại doanh nghiệp.

Trong khi đó, tính đến tháng 8-2026, các sàn giao dịch khoa học và công nghệ ghi nhận hơn 62.500 công nghệ chào bán nhưng chỉ có khoảng 750 nhu cầu tìm mua. Trong 8 tháng đầu năm, mới ghi nhận 72 giao dịch thành công.

Những con số này cho thấy, việc tạo ra công nghệ và việc hình thành nhu cầu tiếp nhận, ứng dụng công nghệ chưa có sự tương xứng. Bài toán không chỉ nằm ở năng lực nghiên cứu mà còn ở cách xác định nhu cầu, tổ chức hợp tác và tạo điều kiện để sản phẩm tiếp cận thị trường.

Tại Hà Nội, một hướng tiếp cận đang được triển khai là chuyển từ chủ yếu tài trợ cho các đề xuất nghiên cứu sang xác định trước những vấn đề cần giải quyết, tìm doanh nghiệp tham gia và đặt hàng nghiên cứu. Thành phố đã xây dựng danh mục 30 bài toán lớn giai đoạn 2026-2030. Qua các phiên làm việc với 23 hiệp hội doanh nghiệp, Hà Nội tiếp nhận 106 bài toán từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Với những làng nghề như Bát Tràng, Sơn Đồng, Chuyên Mỹ, thành phố thành lập tổ công tác gồm cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ trực tiếp khảo sát tại cơ sở. Trên cơ sở đó, bốn nhiệm vụ liên quan đến năng suất, chất lượng và xử lý ô nhiễm môi trường được đặt hàng.

Điểm đáng chú ý là các bên tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu. Bài toán nghiên cứu được hình thành từ những vấn đề cụ thể trong sản xuất, kinh doanh, thay vì chờ có kết quả nghiên cứu rồi mới tìm kiếm đơn vị ứng dụng.

Ở lĩnh vực năng lượng, TS Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam chia sẻ những kết quả từ mô hình nghiên cứu gắn trực tiếp với nhu cầu doanh nghiệp. Riêng 4 sản phẩm được thương mại hóa trong giai đoạn 2020-2025 đã mang lại doanh thu hơn 200 tỷ đồng cho Viện. Sự tương tác với doanh nghiệp cũng chuyển biến theo hướng hai chiều: Không chỉ Viện tìm đến doanh nghiệp mà doanh nghiệp ngày càng chủ động đặt hàng nghiên cứu.

Thước đo là hiệu quả ứng dụng trong cuộc sống

Bắt đầu nghiên cứu từ nhu cầu thực tế là điều kiện quan trọng, nhưng chưa đủ để bảo đảm sản phẩm có thể thương mại hóa. Giữa một kết quả nghiên cứu và sản phẩm sẵn sàng đưa ra thị trường vẫn còn khoảng cách về công nghệ, chất lượng, quy trình sản xuất và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng.

PGS.TS Tạ Hải Tùng, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, chỉ ra một khoảng cách thường gặp: Nghiên cứu trong trường đại học mới dừng ở mức chứng minh được nguyên lý hoặc thử nghiệm công nghệ, trong khi doanh nghiệp cần sản phẩm đủ hoàn thiện, ổn định và đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh.

Giữa hai giai đoạn đó là cả một quá trình chế tạo mẫu, thử nghiệm, kiểm chứng, hoàn thiện quy trình và đánh giá khả năng ứng dụng. Quá trình này tiếp tục đòi hỏi nguồn lực đầu tư và khả năng chấp nhận rủi ro, trong khi chưa chắc đã tạo ra doanh thu.

Theo PGS.TS Tạ Hải Tùng, có những doanh nghiệp không muốn nhận kinh phí hỗ trợ nghiên cứu từ ngân sách nhà nước vì e ngại các thủ tục liên quan đến tài sản công và quyền sở hữu, khai thác công nghệ hình thành sau nghiên cứu. Bởi vậy, bên cạnh việc khuyến khích doanh nghiệp cùng đầu tư, ông đề xuất làm rõ cơ chế phân chia quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học để nhà khoa học và nhà đầu tư trực tiếp tham gia thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Một trường hợp khác tại Hà Nội cho thấy vai trò của doanh nghiệp trong việc đưa công nghệ tiến gần hơn đến thị trường.

Từ nền tảng nghiên cứu của Viện Vật lý và các nhà khoa học, Công ty Cổ phần Công nghệ Plasma Việt Nam đã tiếp nhận, phát triển máy phát tia plasma lạnh thế hệ II. Theo báo cáo của Hà Nội, dự án đã hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử nghiệm 20 máy và có đơn đặt hàng đầu tiên khoảng 500 máy. Trong tổng kinh phí nghiên cứu hơn 13 tỷ đồng, ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 20%, phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng.

Đơn đặt hàng là tín hiệu cho thấy sản phẩm bước đầu tiếp cận được nhu cầu thị trường, dù chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ số máy đã được bàn giao và đưa vào sử dụng. Đáng chú ý, doanh nghiệp không chỉ tham gia tiếp nhận kết quả nghiên cứu mà còn đầu tư nguồn lực để hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm và tìm kiếm khách hàng. Trường hợp này cho thấy thương mại hóa cần được tính đến ngay trong quá trình nghiên cứu, thay vì trở thành một công đoạn riêng biệt sau khi đề tài kết thúc.

Với Công ty Cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa, bài toán đầu ra lại đặt ra ở khả năng tiếp cận các đơn hàng phù hợp đối với sản phẩm công nghệ do doanh nghiệp trong nước làm chủ. Ông Đào Mạnh Hùng kiến nghị, Nhà nước phát huy vai trò khách hàng đầu tiên đối với những sản phẩm công nghệ trong nước đáp ứng nhu cầu thực tế, nhất là các thiết bị phục vụ khu vực công.

Tuy nhiên, Nhà nước không thể mua mọi kết quả nghiên cứu. Thị trường và doanh nghiệp mới là những khách hàng lớn nhất. Vì vậy, cơ chế hỗ trợ sản phẩm công nghệ mới không thể chỉ dừng ở kinh phí nghiên cứu mà cần bao gồm cả thử nghiệm, đánh giá chất lượng, kết nối cung - cầu và tạo điều kiện tiếp cận thị trường.

Theo Thông báo số 558/TB-VPCP ngày 28-10-2026 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đề nghị nghiên cứu chuyển mạnh từ giao từng đề tài riêng lẻ sang giao nhiệm vụ theo gói, gắn với mục tiêu và sản phẩm đầu ra. Thông báo đồng thời nêu yêu cầu năm 2027, ít nhất 30% đề tài nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp cụ thể, có sự tham gia hợp tác, cùng nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực; ưu tiên hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, chứng nhận, sản xuất thử và kết nối thị trường đối với những kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng, có doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận. Định hướng này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở việc lựa chọn đề tài nghiên cứu mà còn ở cách tổ chức toàn bộ quá trình phát triển công nghệ. Từ xác định nhu cầu, huy động nguồn lực, hoàn thiện sản phẩm đến thử nghiệm và kết nối thị trường, mỗi khâu đều cần có sự tham gia và trách nhiệm cụ thể của các bên.

Với doanh nghiệp, điều cần thiết không chỉ là tìm được nhà khoa học có khả năng giải quyết bài toán công nghệ mà còn là cơ chế để cùng đầu tư, thử nghiệm, tiếp nhận và khai thác kết quả. Với viện, trường, thước đo hợp tác cũng không chỉ nằm ở số đề tài được nghiệm thu hay số thỏa thuận được ký kết, mà ngày càng phải gắn với sản phẩm và giá trị được tạo ra trong thực tiễn.

Đó cũng là thước đo quan trọng của liên kết viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp: Không chỉ tạo ra thêm bao nhiêu công nghệ, mà còn đưa được bao nhiêu kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Ths Đặng Đình Nam

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/doi-moi-de-dua-nghien-cuu-ra-thi-truong-1764890.html