Đổi mới hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm
Thời gian qua, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm đã tạo nền tảng cho nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, song chưa hình thành được năng lực nghiên cứu, thử nghiệm đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu làm chủ các công nghệ chiến lược.

Chuyên gia Nhật Bản và các cán bộ nghiên cứu Việt Nam thảo luận tại Phòng thí nghiệm trọng điểm vật liệu tiên tiến ứng dụng trong phát triển xanh, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh HÀ LINH)
Việc tổ chức lại hạ tầng theo hướng dùng chung, gắn nghiên cứu với thử nghiệm, sản xuất và thị trường đang đặt ra yêu cầu đổi mới về phương thức đầu tư, cơ chế vận hành…
Hình thành hệ thống năng lực dùng chung
Đến nay, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Việc hình thành hệ thống này là chủ trương đúng đắn trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ hiện đại, góp phần hình thành một số nhóm nghiên cứu mạnh, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và tạo nền tảng cho nghiên cứu trong một số lĩnh vực công nghệ ưu tiên.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, việc lựa chọn lĩnh vực và danh mục phòng thí nghiệm trọng điểm được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam chưa có chiến lược phát triển công nghệ quốc gia đủ rõ ràng và chưa hình thành quy hoạch tổng thể về hạ tầng nghiên cứu quốc gia. Do đó, cơ cấu các phòng thí nghiệm trọng điểm chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu truyền thống như công nghệ sinh học, vật liệu, hóa học, cơ khí, tự động hóa, trong khi hầu như chưa có sự hiện diện của các lĩnh vực hiện đang quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia như: Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, điện toán hiệu năng cao, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học thế hệ mới, robot thông minh, dữ liệu lớn, công nghệ không gian.
Đối với hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, tuy đã hình thành hơn 1.000 phòng thử nghiệm trên cả nước để thực hiện nhiệm vụ tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, chứng nhận, giám định và công nhận, nhưng việc bố trí còn phân tán, mô hình tổ chức và hoạt động chưa phân tầng rõ giữa tổ chức đầu mối quốc gia, trung tâm kỹ thuật trọng điểm, trung tâm vùng và trung tâm địa phương.
Trước yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, Nghị quyết số 57/NQ-TW ngày 22/11/2024 của Bộ Chính trị đã định hướng phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.
Trên cơ sở đó, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1483/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược.
Theo các chuyên gia, Quyết định 1483/QĐ-TTg đã chuyển cách tiếp cận từ đầu tư từng thiết bị, từng phòng thí nghiệm đơn lẻ sang tổ chức một hệ thống năng lực dùng chung trên phạm vi quốc gia. Chuỗi năng lực được xác định khá đầy đủ: Nghiên cứu công nghệ lõi và công nghệ nền; phát triển và tích hợp; thử nghiệm, đo lường, kiểm định và chứng nhận; sản xuất thử; hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm. Quy mô và mức độ khẩn trương của chính sách thể hiện qua mục tiêu đến năm 2030 đầu tư, nâng cấp và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia, làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi…
Tạo cơ chế để hạ tầng phát huy hiệu quả
Theo Giáo sư Nguyễn Hữu Đức, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, việc tổ chức một hệ thống năng lực dùng chung trên phạm vi quốc gia đồng nghĩa với việc khẳng định đổi mới sáng tạo là hoạt động liên tổ chức. Mỗi trung tâm, phòng thí nghiệm phải liên kết với ít nhất một hệ sinh thái hoặc cụm gồm viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Hạ tầng phải được công khai trên nền tảng số về thiết bị, dịch vụ, điều kiện tiếp cận và thời gian sẵn sàng. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp khoa học-công nghệ, được tiếp cận để nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm.

Phòng thí nghiệm tại Viện Tế bào gốc, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh HOÀNG NAM)
Để hệ thống vận hành hiệu quả và tạo ra năng lực nghiên cứu thực chất, theo các chuyên gia, yếu tố then chốt là tập trung xây dựng đội ngũ tổng công trình sư và trưởng nhóm nghiên cứu mạnh; áp dụng cơ chế đặc thù và chính sách đãi ngộ vượt trội để chiêu mộ các chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc trong và ngoài nước đảm nhiệm vị trí lãnh đạo tại các phòng thí nghiệm trọng điểm. Cùng với đó, định hướng nghiên cứu phải bám sát nhu cầu thực tế của thị trường và ngành công nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp kỳ vọng việc đầu tư hệ thống hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm sẽ tác động trực tiếp vào năng lực cạnh tranh và khả năng đổi mới của doanh nghiệp Việt Nam.
Bà Phan Thị Trà My, Nhà sáng lập, Giám đốc điều hành Công ty trách nhiệm hữu Việt Thảo (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là một “đòn bẩy” quan trọng để mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Hệ thống cần có một đầu mối hoặc nền tảng chung, trong đó công khai năng lực của từng phòng thí nghiệm, danh mục thiết bị, các phương pháp thử, dịch vụ có thể cung cấp, chi phí dự tính, thời gian thực hiện và quy trình đăng ký để doanh nghiệp không phải tìm kiếm và liên hệ nhiều nơi. Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế hỗ trợ một phần chi phí thử nghiệm, phân tích hoặc sử dụng thiết bị cho các doanh nghiệp có dự án R&D, sản phẩm mới, sản phẩm ứng dụng công nghệ chiến lược hoặc dự án nâng cao giá trị nông sản Việt Nam. Nếu chi phí tiếp cận quá cao, hệ thống dùng chung sẽ khó phát huy hiệu quả đối với nhóm doanh nghiệp đang cần hỗ trợ nhất.
Doanh nghiệp cũng mong muốn hệ thống chia sẻ cả chuyên gia và năng lực nghiên cứu để cùng giải quyết bài toán công nghệ cụ thể. Ngoài ra, cần có cơ chế bảo mật thông tin và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng để doanh nghiệp mạnh dạn đưa các công thức, mẫu thử và quy trình công nghệ vào hệ thống dùng chung. Các quy định về bảo mật dữ liệu, quyền sở hữu kết quả nghiên cứu và quyền khai thác thương mại cần được quy định minh bạch.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nội, Chủ tịch Hội các Phòng thử nghiệm Việt Nam, điều kiện quyết định tốc độ và mức độ khả thi khi vận hành hệ thống là cần sớm hoàn thành việc ban hành bộ tiêu chí lựa chọn các trung tâm, phòng thí nghiệm và bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động... Cho phép các phòng thí nghiệm trọng điểm được sử dụng nguồn thu từ dịch vụ thử nghiệm, kiểm định, chuyển giao công nghệ để tái đầu tư trang thiết bị và chi trả đãi ngộ.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/doi-moi-ha-tang-nghien-cuu-thu-nghiem-post987791.html


