Đổi mới mô hình phát triển là bước chuyển chiến lược để Việt Nam cất cánh
Nghị quyết số 19 hiện thực hóa đường lối của Đại hội Đảng, là ngọn đuốc soi đường định vị và giải pháp đột phá định hình một Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự bứt phá, phát triển thịnh vượng.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết 19 về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Nghị quyết đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Định vị những hướng đi chiến lược
Sau 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Từ một nền kinh tế lạc hậu, khủng hoảng, mất cân đối, thiếu cái ăn, cái mặc, thu nhập thấp, nước ta đã vươn lên thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển năng động, trở thành nước có thu nhập trung bình cao, đời sống mọi mặt của nhân dân được cải thiện rõ rệt, uy tín và vị thế trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Đổi mới mô hình phát triển không đơn thuần là một sự điều chỉnh về mặt chỉ số kinh tế, mà là một cuộc cách mạng về tư duy và hành động. Ảnh: Thế Bằng
Tuy nhiên, khi thế giới bước vào giai đoạn biến động sâu sắc với sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển dịch xanh, mô hình phát triển dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thô không còn là lợi thế, đã chạm ngưỡng giới hạn.
Để vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" và hiện thực hóa khát vọng quốc gia phát triển, việc đổi mới mô hình phát triển không chỉ là một lựa chọn, mà là mệnh lệnh cấp bách, là sự sống còn, nếu chúng ta không muốn bị tụt hậu.
Nghị quyết 19 của hội nghị Trung ương 3 khóa 14 hiện thực hóa đường lối của Đại hội Đảng, là ngọn đuốc soi đường, định vị những hướng đi chiến lược và đề ra các giải pháp đột phá định hình một Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự bứt phá, phát triển thịnh vượng.
Tự cường - sáng tạo - nhân văn - bền vững và hội nhập là tinh thần cốt lõi, cơ bản của Nghị quyết số 19, là sự chuyển dịch căn bản từ tư duy "tăng trưởng bằng mọi giá" sang mô hình phát triển bền vững, toàn diện.
Mô hình mới được vận hành dựa trên hệ giá trị của các thuộc tính đan xen chặt chẽ, theo đó đất nước phát triển nhanh và bền vững có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.
Với tầm nhìn dài hạn và những nấc thang chiến lược, nghị quyết đã vạch rõ lộ trình đi tới rất rõ ràng với 3 cột mốc định hình tương lai dân tộc.
Đến năm 2030, nước ta phải hoàn thành việc xây dựng nền tảng cho mô hình phát triển mới, đạt trình độ nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2035, quá trình chuyển đổi sang mô hình tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững. Tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, vận hành toàn diện trên nền tảng kinh tế tri thức và quản trị số hiện đại.
Đây là những mục tiêu chiến lược quan trọng, đòi hỏi tư duy hành động quyết liệt, đồng bộ, không ngừng nghỉ từ Trung ương đến các bộ ngành và các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp.
Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
Các khâu đột phá chiến lược giải phóng nguồn lực để hiện thực hóa tầm nhìn 100 năm và định hướng tầm nhìn cho 100 năm tiếp theo Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn, cần quyết liệt giải quyết và thật sự khơi thông các điểm nghẽn về thể chế và hạ tầng.
Khâu đột phá đầu tiên chính là hoàn thiện thể chế và quản trị quốc gia hiện đại, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hệ thống pháp luật phải chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo phát triển. Nhà nước chủ động đi trước mở đường bằng việc ban hành các khung pháp lý thử nghiệm cho những ngành công nghiệp mới như trí tuệ nhân tạo (AI), chip bán dẫn hay năng lượng xanh, cấu trúc quản trị phải dịch chuyển mạnh mẽ sang quản trị số, lấy dữ liệu làm cơ sở cho mọi quyết sách kinh tế, văn hóa, xã hội.
Khâu đột phá tiếp theo là tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia. Việt Nam đang tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tinh gọn bộ máy, hiệu quả, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đủ năng lực, nguồn lực xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển ngay từ cơ sở và liên kết vùng, đa tầng chặt chẽ. Việc triển khai thí điểm các mô hình kinh tế, thể chế vượt trội tại các cực tăng trưởng trọng điểm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng... sẽ tạo ra sức lan tỏa, kéo theo sự phát triển của các vùng liên kết - phụ cận.
Việc đồng bộ hạ tầng chiến lược bao gồm hạ tầng giao thông kết nối quốc gia, đường sắt tốc độ cao, cao tốc trục dọc - ngang và hạ tầng số, hàng không hiện đại, trung tâm dữ liệu lớn sẽ đóng vai trò như hệ tuần hoàn huyết mạch.
Khi hạ tầng cứng lẫn hạ tầng mềm thông suốt và hội nhập, năng lực nội sinh của cộng đồng doanh nghiệp - các tập đoàn doanh nghiệp chủ lực, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được kích hoạt, sẵn sàng hấp thụ và chuyển giao công nghệ từ dòng vốn FDI thế hệ mới. Chuyển hóa dòng chảy lịch sử thành hành động thực tiễn, nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóa 14 không dừng lại ở những định hướng vĩ mô, mà phải là hành động thực tế, đi vào lòng dân, sức mạnh từ nhân dân, lấy mục tiêu hàng đầu là phục vụ nhân dân, đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển.
Để đưa nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 14 và nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khoá 14 vào cuộc sống, mỗi bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, cộng đồng dân cư phải tự soi chiếu để xây dựng chương trình hành động cụ thể, phù hợp với đặc thù của mình. Không thể tiếp tục thu hút FDI bằng đất đai giá rẻ, nhân công giá rẻ, hay ưu đãi thuế vô điều kiện, mà phải chọn lọc những dự án công nghệ cao, cam kết bền vững và có tính kết nối cao với doanh nghiệp nội địa.
Đặc biệt, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của đất nước, của tập thể, vai trò nêu gương của người đứng đầu, kỷ luật, kỷ cương công vụ là yếu tố quyết định. Phải coi đổi mới mô hình phát triển thật sự là cuộc cách mạng. Sự trì trệ, đùn đẩy, sợ sai, sợ trách nhiệm, nói nhiều làm ít, xem nhẹ trách nhiệm người đứng đầu trong bộ máy công quyền là rào cản lớn nhất kìm hãm đà đổi mới và tăng trưởng.
Khi mỗi cán bộ, đảng viên ý thức được sứ mệnh lịch sử của giai đoạn phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, bộ máy quản lý - quản trị điều hành sẽ vận hành thông suốt, khơi thông mọi nguồn lực xã hội.
Đổi mới mô hình phát triển theo tinh thần nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóa 14 không đơn thuần là một sự điều chỉnh về mặt chỉ số kinh tế, mà là một cuộc cách mạng về tư duy và hành động. Đó là con đường duy nhất để Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng, nêu cao tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc bước đi bằng chính nội lực của mình.
Với tầm nhìn đúng đắn, kiên định, vững tin cùng với một quyết tâm hành động cao, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta hoàn toàn có niềm tin vững chắc vào một nước Việt Nam văn minh, hiện đại, phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
