Đổi mới mô hình phát triển với khát vọng tự cường
81 năm kể từ ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Việt Nam đã đi qua một hành trình đặc biệt: từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu những tổn thất nặng nề của chiến tranh đến một quốc gia có nền kinh tế quy mô hơn 500 tỷ USD, hội nhập sâu rộng và ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Những thành tựu của công cuộc Đổi mới tạo nên nền tảng quan trọng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mô hình phát triển, tạo dựng những động lực mới để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
Đổi mới mô hình phát triển là yêu cầu tất yếu
Ngày 2/9/1945 mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng nền độc lập được xác lập trong hoàn cảnh đất nước đứng trước muôn vàn thử thách. Sau nhiều thập niên dưới chế độ thuộc địa, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập với một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém và đời sống Nhân dân hết sức khó khăn. Nạn đói 1944 - 1945 cướp đi sinh mạng của khoảng 2 triệu người; hơn 90% dân số mù chữ; cả nước chỉ có khoảng 213 bác sĩ. Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong khi nền độc lập vừa giành được phải đối diện với những thách thức nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, quân sự và an ninh.
Trong hoàn cảnh ấy, nhiệm vụ trước mắt không chỉ là xây dựng một nhà nước độc lập mà còn phải giải quyết những vấn đề căn bản nhất của một xã hội vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa. Chống đói, chống dốt, củng cố chính quyền, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống và bảo vệ nền độc lập trở thành những nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, quá trình kiến thiết đất nước trong hòa bình bị gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh kéo dài. Nguồn lực vốn hạn hẹp phải tập trung cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; cơ sở hạ tầng, sản xuất và đời sống xã hội chịu những tổn thất nặng nề.
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, mở ra điều kiện lịch sử để cả nước tập trung xây dựng và phát triển. Nhưng Việt Nam bước vào thời kỳ hậu chiến với một nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, cơ sở vật chất bị tàn phá nghiêm trọng, nguồn lực hạn chế và đời sống Nhân dân còn nhiều khó khăn. Những thách thức từ bên ngoài cùng những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp khiến nền kinh tế gặp nhiều trở ngại. Trong giai đoạn 1975 - 1985, thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 125 - 200 USD/năm; đến năm 1986, lạm phát lên tới 774,7%.
Đó là thời điểm đất nước đứng trước yêu cầu phải lựa chọn một con đường phát triển phù hợp hơn với thực tiễn. Đại hội VI của Đảng năm 1986 mở ra công cuộc Đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, từng bước chuyển đổi phương thức quản lý, giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy các nguồn lực xã hội, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đổi mới vì thế không chỉ là giải pháp tình thế trước những khó khăn kinh tế - xã hội mà trở thành một quá trình đổi mới tư duy phát triển lâu dài. Từ chỗ tập trung giải quyết những nhu cầu căn bản của một đất nước nghèo và vừa bước ra khỏi chiến tranh, Việt Nam từng bước hình thành mô hình phát triển dựa trên phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh và mở rộng hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, thành công của công cuộc Đổi mới cũng đặt ra một yêu cầu mới: khi những động lực phát triển cũ dần bộc lộ giới hạn, đất nước cần tiếp tục đổi mới mô hình phát triển để tạo ra một năng lực phát triển mới, cao hơn và bền vững hơn.
Ý nghĩa chiến lược đối với giai đoạn phát triển mới
Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế nghèo, quy mô nhỏ, thường xuyên thiếu hụt, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có quy mô khoảng 514 tỷ USD vào năm 2025. GDP năm 2025 tăng 8,02%, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, xuất siêu hơn 20 tỷ USD. Từ chỗ phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản quan trọng của thế giới; từ nền sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Những thành tựu về kinh tế tạo ra nguồn lực quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng. Hệ thống đường bộ, cao tốc, cảng biển, sân bay, lưới điện, viễn thông và hạ tầng số được mở rộng. Không gian kinh tế giữa các vùng ngày càng được kết nối. Các trung tâm đô thị, công nghiệp, dịch vụ mới hình thành, tạo thêm động lực tăng trưởng và mở rộng cơ hội việc làm.
Nhưng giá trị của quá trình phát triển không chỉ nằm ở những con số về GDP. Một trong những chuyển biến căn bản nhất là đời sống Nhân dân được cải thiện. Từ một đất nước mà hơn 90% dân số mù chữ năm 1945, Việt Nam đã xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân rộng khắp, hoàn thành phổ cập giáo dục ở nhiều cấp học và chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt khoảng 29,2%.
Trong lĩnh vực y tế, từ con số chỉ 213 bác sĩ vào những năm đầu độc lập, Việt Nam đã xây dựng mạng lưới chăm sóc sức khỏe từ Trung ương đến cơ sở. Năm 2024, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,29%; tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi. Trong lĩnh vực đối ngoại, từ một quốc gia từng chịu bao vây, cấm vận và hạn chế về quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước.
Những thành tựu trên cho thấy công cuộc Đổi mới đã tạo ra sự thay đổi sâu sắc về tiềm lực, cơ đồ, vị thế và uy tín quốc gia. Nhưng nhìn từ chiều dài 81 năm kể từ Tết Độc lập, có thể thấy giá trị của tinh thần độc lập không chỉ được khẳng định ở việc làm chủ vận mệnh dân tộc, mà còn phải được hiện thực hóa bằng năng lực tự chủ, tự cường. Chính vì vậy, khi những động lực phát triển cũ dần bộc lộ giới hạn, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì những thành quả đã đạt được, mà phải tiếp tục đổi mới mô hình phát triển, tạo dựng những năng lực mới để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và vững vàng hơn trước những biến động của thời đại.
Hướng tới một Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập
Trong một thời gian dài, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa đáng kể vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, sử dụng lao động chi phí thấp, gia công, lắp ráp và huy động các nguồn lực theo chiều rộng. Năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất toàn cầu còn hạn chế. Năng lực tự chủ của nền kinh tế trước những biến động bên ngoài chưa thật sự vững chắc. Cùng với đó, những vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu, chất lượng đô thị hóa, an ninh con người, chênh lệch phát triển và chất lượng dịch vụ công tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới.
Điều đó cho thấy đổi mới mô hình phát triển không còn chỉ là yêu cầu của một lĩnh vực riêng biệt mà đã trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với giai đoạn phát triển mới. Nếu Đổi mới năm 1986 giúp Việt Nam chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang phát huy mạnh mẽ hơn các nguồn lực của nền kinh tế, thì đổi mới mô hình phát triển hôm nay phải tạo ra bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng nguồn lực sang tăng trưởng dựa ngày càng nhiều vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị.
Trong bối cảnh hiện nay, Đổi mới mô hình phát triển cần được xác định là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trên cơ sở kiên định những nguyên tắc nền tảng, thực hiện nhất quán “bốn kiên định”, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước và khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bản chất của đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh phương thức tăng trưởng hay thay đổi cách thức phân bổ nguồn lực, mà sâu xa hơn là đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia nhằm tạo dựng những năng lực phát triển mới. Mô hình phát triển trong giai đoạn mới cần hướng tới một Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, trong đó con người vừa là trung tâm, mục tiêu, động lực, vừa là chủ thể của phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp và tiềm lực quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống, bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân phải trở thành trục xuyên suốt. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cần được đặt ở vị trí động lực chính của tăng trưởng; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực phải trở thành nguyên tắc trung tâm, đồng thời phải tạo lập mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển và ổn định, lấy phát triển để củng cố ổn định và lấy ổn định làm điều kiện, nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Để hiện thực hóa mô hình phát triển mới, cần huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, từ nguồn lực con người, tài chính, đất đai, tài nguyên đến khoa học, công nghệ, dữ liệu và các nguồn lực xã hội, hướng tới mục tiêu xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc. Cùng với phát triển kinh tế, cần xây dựng một xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, bảo đảm mọi người dân có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu của nền kinh tế và khả năng thích ứng, tự phục hồi trước các cú sốc cần được nâng cao; quản trị rủi ro phải trở thành một bộ phận thường xuyên của quản trị quốc gia, qua đó không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia và bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững, lâu dài của đất nước.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/doi-moi-mo-hinh-phat-trien-voi-khat-vong-tu-cuong.html
