Đổi mới tài chính lâm nghiệp: Hiệu quả từ số hóa dịch vụ môi trường rừng

Chuyển đổi số đang mở ra phương thức quản trị mới đối với nguồn tài chính lâm nghiệp. Tại Đà Nẵng, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý diện tích rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu, chuẩn hóa quy trình thu - chi và tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt đang góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, đưa nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đến đúng đối tượng, đúng diện tích, qua đó tạo thêm nguồn lực bền vững cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Dòng tiền ngày càng lớn cho những cánh rừng

Sau nhiều năm triển khai, chi trả DVMTR đã trở thành một trong những nguồn lực tài chính quan trọng của ngành Lâm nghiệp, từng bước hiện thực hóa nguyên tắc: những tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ các giá trị do rừng mang lại có trách nhiệm đóng góp trở lại cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Tại TP Đà Nẵng, sau sắp xếp đơn vị hành chính, quy mô tài nguyên rừng, số lượng chủ rừng, lưu vực cung ứng DVMTR và đối tượng tham gia được mở rộng đáng kể. Điều đó đặt ra yêu cầu quản lý nguồn tiền DVMTR không chỉ đúng quy định mà còn phải chính xác, công khai, có khả năng kiểm tra, đối chiếu và thích ứng với yêu cầu quản trị hiện đại.

Theo Báo cáo số 714/BC-QBV&PTR ngày 15/10/2026 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng TP Đà Nẵng, hiện có 130 đơn vị sử dụng DVMTR ký kết hợp đồng và thực hiện chi trả DVMTR trên địa bàn thành phố. Đến giữa tháng 10/2026, tổng số tiền DVMTR Quỹ đã thu đạt 209,637 tỷ đồng, bằng 86,38% kế hoạch năm. Trong đó, nguồn điều phối từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam hơn 49,244 tỷ đồng; thu nội tỉnh hơn 160,054 tỷ đồng và tiền lãi hơn 337 triệu đồng.

Cùng thời điểm, tổng số tiền DVMTR đã chi đạt hơn 143,458 tỷ đồng, trong đó 130,718 tỷ đồng được chi trả cho các bên cung ứng DVMTR, hơn 10,244 tỷ đồng phục vụ công tác quản lý. Những con số trên cho thấy DVMTR đã trở thành một dòng tài chính đáng kể cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Quy mô nguồn tiền càng lớn càng đặt ra yêu cầu cao về quản trị: tiền phải được thu đúng, chi đúng, có thể kiểm tra, giám sát và bảo đảm quyền lợi công bằng giữa các chủ rừng.

Nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đang trở thành nguồn lực quan trọng góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn TP Đà Nẵng.

Nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đang trở thành nguồn lực quan trọng góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn TP Đà Nẵng.

Số hóa từ diện tích rừng đến hồ sơ chi trả

Muốn dòng tiền minh bạch, trước hết dữ liệu làm căn cứ chi trả phải chính xác. Đây là lý do việc ứng dụng công nghệ thông tin, GIS và các phần mềm chuyên ngành ngày càng có vai trò quan trọng. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào bản đồ giấy và tổng hợp thủ công, dữ liệu không gian cho phép xác định vị trí, ranh giới, diện tích và theo dõi biến động rừng, tạo cơ sở kỹ thuật cho việc xác định diện tích đủ điều kiện cung ứng DVMTR.

Theo báo cáo, tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR năm 2026 trên địa bàn thành phố là 354.836,38ha, được xác định trên cơ sở diện tích rừng được chi trả DVMTR năm 2025 chuyển sang năm 2026. Với quy mô này, việc chuẩn hóa và số hóa dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp tăng khả năng kiểm tra, đối chiếu giữa hồ sơ với thực địa và hạn chế sai sót trong quá trình xác định đối tượng, diện tích được hưởng chính sách.

Cùng với quản lý dữ liệu tài nguyên rừng, Đà Nẵng đang tiếp tục đẩy mạnh số hóa hoạt động của Quỹ. Trong tháng 10/2026, Quỹ đã hoàn thành quy trình phê duyệt nhiệm vụ, dự toán kinh phí xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu DVMTR, trồng rừng thay thế và lấy ý kiến của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố. Đây là tiền đề hướng tới hình thành hệ thống dữ liệu tập trung, kết nối thông tin về diện tích rừng, chủ rừng và nguồn tài chính.

Ứng dụng công nghệ và dữ liệu không gian góp phần nâng cao độ chính xác trong xác định diện tích rừng cung ứng DVMTR.

Ứng dụng công nghệ và dữ liệu không gian góp phần nâng cao độ chính xác trong xác định diện tích rừng cung ứng DVMTR.

Minh bạch hóa dòng tiền, củng cố niềm tin

Chuyển đổi số trong tài chính lâm nghiệp không đơn thuần là đưa hồ sơ từ giấy lên máy tính. Giá trị lớn hơn là tạo ra khả năng theo dõi dòng tiền từ bên sử dụng DVMTR đến bên cung ứng dịch vụ. Việc chuẩn hóa thông tin chủ rừng, diện tích được hưởng, số tiền được chi trả, kết hợp với các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp giảm các khâu trung gian và tạo cơ sở thuận lợi cho kiểm tra, đối chiếu giao dịch.

Công tác kiểm tra nguồn thu cũng được tăng cường. Trong kỳ báo cáo tháng 10, Quỹ đã hoàn thành việc kiểm tra, kê khai, nộp tiền chi trả của bên sử dụng DVMTR; đồng thời tiếp tục theo dõi, hướng dẫn và đôn đốc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Công nghệ vì thế không thay thế hoạt động kiểm tra, giám sát mà bổ sung công cụ để quá trình này được thực hiện nhanh hơn, chính xác hơn và có cơ sở dữ liệu phục vụ đối chiếu.

Công khai, minh bạch còn phải được thực hiện từ phía người thụ hưởng. Người dân và cộng đồng cần biết diện tích nào được chi trả, mức hưởng được xác định ra sao và quyền lợi gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng như thế nào. Khi người giữ rừng có thể hiểu, kiểm tra và giám sát quyền lợi của mình, chính sách mới thực sự tạo được niềm tin và động lực lâu dài.

Công khai thông tin và tăng cường giám sát giúp người dân, cộng đồng hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm trong thực hiện chi trả DVMTR.

Công khai thông tin và tăng cường giám sát giúp người dân, cộng đồng hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm trong thực hiện chi trả DVMTR.

Hướng tới quản trị tài chính lâm nghiệp hiện đại

Với quy mô 130 đơn vị sử dụng DVMTR, hơn 354.836ha rừng cung ứng dịch vụ và nguồn thu đã vượt 209,6 tỷ đồng, bài toán quản trị DVMTR tại Đà Nẵng ngày càng đòi hỏi công cụ hiện đại hơn. Yêu cầu trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu; đồng bộ thông tin chủ rừng, diện tích rừng và lưu vực cung ứng dịch vụ; tăng cường cập nhật biến động rừng; mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Quỹ với cơ quan kiểm lâm, chính quyền địa phương và các chủ rừng.

Theo kế hoạch, Quỹ sẽ tiếp tục phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thiện bản demo phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, cập nhật, nâng cấp phần mềm để đáp ứng yêu cầu quản lý và cập nhật thông tin chủ rừng. Đồng thời, Quỹ tiếp tục xây dựng phương án xác định ranh giới lưu vực, diện tích rừng trong các lưu vực thủy điện, nước sạch và phương án chi trả DVMTR đối với hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí.

Khi dữ liệu bản đồ, dữ liệu chủ rừng, kết quả kiểm tra và thông tin thu - chi được kết nối trên cùng một quy trình quản lý, mỗi khoản thu sẽ có cơ sở theo dõi, mỗi khoản chi có đối tượng thụ hưởng rõ ràng và mỗi diện tích rừng được chi trả đều có thể kiểm tra, đối chiếu. Đó chính là giá trị cốt lõi của chuyển đổi số đối với tài chính lâm nghiệp: không chỉ làm cho công việc nhanh hơn mà còn giúp dòng tiền minh bạch hơn, dữ liệu chính xác hơn và trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn.

Từ hơn 209,6 tỷ đồng DVMTR đã thu đến giữa tháng 10/2026 và hơn 130,7 tỷ đồng đã chi trả cho các bên cung ứng dịch vụ, phía sau mỗi con số là nguồn lực dành cho những cánh rừng và những người đang trực tiếp gìn giữ rừng. Với hướng đi lấy dữ liệu chính xác - dòng tiền minh bạch - quản trị hiện đại làm nền tảng, số hóa nguồn quỹ DVMTR sẽ tiếp tục góp phần biến mỗi đồng tiền dịch vụ môi trường rừng thành “nguồn vốn xanh” bền vững cho bảo vệ rừng, phát triển sinh kế và gìn giữ môi trường sinh thái của TP Đà Nẵng.

Hoàng Ngọc Sơn

Nguồn CAND: https://cand.vn/doi-moi-tai-chinh-lam-nghiep-hieu-qua-tu-so-hoa-dich-vu-moi-truong-rung-post825576.html