Đòn bẩy phát triển du lịch và sinh kế bền vững cho cộng đồng người Chăm

Trong bức tranh tổng thể của du lịch Khánh Hòa, dân tộc Chăm với nền văn hóa đặc sắc được nhìn nhận là nguồn 'tài nguyên mềm' giàu giá trị. Không chỉ góp phần định hình thương hiệu điểm đến cho du lịch Khánh Hòa, việc khai thác hợp lý di sản văn hóa Chăm còn mở ra hướng đi bền vững, tạo nguồn thu trực tiếp cho người dân và bảo tồn những giá trị truyền thống.

Với kỹ thuật thủ công, không bàn xoay, không tráng men, gốm Bàu Trúc của đồng bào Chăm được lưu truyền qua nhiều thế kỷ và giúp người dân gia tăng nguồn thu khi tham gia mô hình du lịch cộng đồng dựa vào di sản. Ảnh: Bích Nguyên

Với kỹ thuật thủ công, không bàn xoay, không tráng men, gốm Bàu Trúc của đồng bào Chăm được lưu truyền qua nhiều thế kỷ và giúp người dân gia tăng nguồn thu khi tham gia mô hình du lịch cộng đồng dựa vào di sản. Ảnh: Bích Nguyên

Di sản văn hóa Chăm-nguồn tài nguyên độc đáo chưa được khai thác hết

Người Chăm sinh sống ở nhiều tỉnh, thành phố của nước ta, trong đó có tỉnh Khánh Hòa. Sau khi sáp nhập các tỉnh, cộng đồng người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa mở rộng về quy mô và tăng về số lượng. Khánh Hòa là một trong số ít địa phương còn bảo tồn tương đối nguyên vẹn hệ sinh thái văn hóa Chăm với ba nhóm cộng đồng tiêu biểu của người Chăm, đó là Chăm Bàlamôn (Ahier), Chăm Bàni (Awal) và Chăm Islam. Ba sắc thái của ba cộng đồng này tạo nên sự kết hợp đặc sắc trong văn hóa dân tộc Chăm ở Khánh Hòa và là tài nguyên du lịch văn hóa không thể trộn lẫn với bất cứ nơi nào khác, với hệ thống đền tháp, lễ hội, nghệ thuật, ẩm thực, trang phục và đời sống sinh hoạt.

Về hệ thống di sản vật thể, cộng đồng Chăm ở Khánh Hòa sở hữu trước hết là hệ thống đền tháp có niên đại hàng thế kỷ, đến nay vẫn gần như còn nguyên vẹn như tháp Hòa Lai, tháp Pô Klong Garai, tháp Pô Rômê hay tháp Bà Pô Nagar. Những công trình này không chỉ có giá trị kiến trúc-nghệ thuật độc đáo, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, là điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó là hệ thống làng nghề truyền thống đặc sắc. Trong đó, làng gốm Bàu Trúc, một trong những làng gốm cổ nhất Đông Nam Á nổi bật với kỹ thuật nặn tay và nung lộ thiên độc đáo, đã được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Còn làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp lại gây ấn tượng bởi những sản phẩm có hoa văn tinh xảo, phản ánh thế giới quan và đời sống tinh thần của người Chăm.

Tài nguyên di sản phi vật thể của người Chăm còn là hệ thống lễ hội phong phú như Katê, Ramưwan, Rija Nagar... Đây là những sự kiện văn hóa mang đậm tính cộng đồng, phản ánh đời sống tinh thần và tín ngưỡng của dân tộc Chăm. Ngoài ra, kho tàng ẩm thực, âm nhạc, trang phục, phong tục tập quán của người Chăm cũng tạo nên một không gian văn hóa sống động, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách yêu thích trải nghiệm.

Âm nhạc là một trong những di sản đặc sắc góp phần tạo nên nền văn hóa Chăm rực rỡ, khác biệt. Ảnh: Bích Nguyên

Âm nhạc là một trong những di sản đặc sắc góp phần tạo nên nền văn hóa Chăm rực rỡ, khác biệt. Ảnh: Bích Nguyên

Từ tiềm năng đến động lực kinh tế

Những năm gần đây, việc gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch tại Khánh Hòa đã bước đầu mang lại hiệu quả rõ nét. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, năm 2025, địa phương này đón 16,4 triệu lượt khách, tăng 14,38% so với năm 2024. Tổng doanh thu du lịch ước đạt 66,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 16,8% so với năm 2024 và đóng vai trò then chốt trong cơ cấu GRDP của tỉnh.

Trong bức tranh tăng trưởng đó, du lịch văn hóa, đặc biệt là khai thác giá trị văn hóa Chăm đóng vai trò ngày càng rõ nét. Các tour tham quan tháp Chăm, trải nghiệm làng nghề, tham gia lễ hội truyền thống đã trở thành sản phẩm đặc trưng, góp phần kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách. Quan trọng hơn, du lịch đang trở thành “đòn bẩy” tạo sinh kế cho cộng đồng người Chăm. Theo ông Đàng Chí Quyết, ở thôn Bàu Trúc, xã Ninh Phước, hiện tại, các lò gốm trong làng vẫn đỏ lửa. Không chỉ sản xuất đồ gia dụng như lu, chum, vại, lò, ấm, nồi - những sản phẩm truyền thống, bà con còn sáng tạo nhiều mẫu mã mới, tập trung vào dòng sản phẩm gốm mỹ nghệ, đồ trang trí, gốm lưu niệm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng trong đời sống hiện đại. Với những yếu tố văn hóa đặc trưng riêng có, làng gốm Bàu Trúc thu hút ngày càng đông du khách tới tham quan, tìm hiểu văn hóa, mua sắm sản phẩm truyền thống.

Thực tế, tại làng gốm Bàu Trúc và làng dệt Mỹ Nghiệp đã hình thành các hợp tác xã, cơ sở sản xuất gốm và thổ cẩm truyền thống với hàng trăm hộ dân theo nghề. Bà con người Chăm không chỉ bán sản phẩm thủ công truyền thống, mà còn cung cấp dịch vụ lưu trú homestay, biểu diễn nghệ thuật dân gian để tăng thu nhập.

Có thể nói, cộng đồng người Chăm ở Khánh Hòa với bề dày văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú đang sở hữu một nguồn tài nguyên du lịch độc đáo, khác biệt, có tiềm năng và lợi thế nổi bật để phát triển du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch làng nghề, du lịch trải nghiệm gắn với đời sống cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, để du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và tạo sinh kế bền vững, theo các chuyên gia du lịch, cần chuyển đổi từ mô hình tham quan đơn thuần sang mô hình du lịch cộng đồng có trách nhiệm.

Để đạt được điều này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa cho rằng, cần tập trung vào ba trụ cột sinh kế chính, đặt người dân vào vị trí “chủ thể kinh tế” trong chuỗi giá trị du lịch. Thứ nhất, phát triển làng nghề thành điểm trải nghiệm. Du khách không chỉ tham quan, mà còn trực tiếp tham gia làm gốm, dệt vải, qua đó gia tăng giá trị sản phẩm và tạo thu nhập cho nghệ nhân. Thứ hai, khai thác mô hình homestay và ẩm thực truyền thống. Những ngôi nhà Chăm với kiến trúc đặc trưng, kết hợp các món ăn bản địa sẽ mang lại trải nghiệm chân thực, đồng thời tạo nguồn thu ổn định cho hộ gia đình. Thứ ba, phát triển nghệ thuật biểu diễn phục vụ du lịch. Các đội văn nghệ truyền thống có thể biểu diễn định kỳ tại điểm du lịch, vừa bảo tồn nghệ thuật dân gian, vừa tạo nguồn thu từ dịch vụ.

Tuy nhiên, để các mô hình này phát huy hiệu quả, cần chú trọng đào tạo kỹ năng cho người dân, từ giao tiếp, quản lý dịch vụ đến ngoại ngữ. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế quản lý cộng đồng minh bạch để bảo đảm lợi ích được phân chia công bằng và tránh thương mại hóa quá mức.

Thu Hằng

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/don-bay-phat-trien-du-lich-va-sinh-ke-ben-vung-cho-cong-dong-nguoi-cham-post502688.html