Dồn lực làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình KHCN và đổi mới sáng tạo quốc gia trong năm 2026, nhằm khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, trùng lặp nhiệm vụ. Trọng tâm của đợt tái cấu trúc là tập trung nguồn lực cho công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và đưa kết quả khoa học ra thị trường.

Dây chuyền sản xuất, kiểm tra bảng mạch điện tử tại nhà máy, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, chế tạo và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Dây chuyền sản xuất, kiểm tra bảng mạch điện tử tại nhà máy, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, chế tạo và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Từ 33 chương trình đến 6 nhóm ưu tiên

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ KHCN cho biết trong năm 2026, Bộ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, gồm 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng và 8 chương trình thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai Đề án tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035, được phê duyệt tại Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 8/10/2026.

Thực tế, giai đoạn 2016-2025, với khoảng 42 chương trình, cả nước đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ KHCN, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống Web of Science và Scopus, đào tạo 1.579 tiến sĩ. Những kết quả này góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực KHCN trong nước.

Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những hạn chế.

Nguồn lực còn phân tán, nhiều chương trình và nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa. Sự liên thông giữa nghiên cứu với phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa chưa thực sự hiệu quả. Công tác quản lý còn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, chưa chú trọng đầy đủ đến hiệu quả và tác động thực tế.

Để khắc phục tình trạng này, Đề án xác định tổ chức lại hệ thống thành 6 nhóm: phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nghiên cứu cơ bản; chương trình trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; chuyển đổi số quốc gia.

Cách tổ chức mới hướng tới tạo sự liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm. Trong đó, nhóm chương trình quốc gia đặc biệt được xác định là một hướng quan trọng để tập trung nguồn lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

"Định hướng đến năm 2030, Bộ KHCN đặt mục tiêu ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc tham gia, với vốn đối ứng tối thiểu 40%. Qua đó, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế, xác định rõ đơn vị tiếp nhận và khả năng thương mại hóa sản phẩm" - Thứ trưởng Bộ KHCN Trần Trung Tính chia sẻ.

Hướng tới sản phẩm công nghệ do Việt Nam làm chủ

Một minh chứng cụ thể cho định hướng này là Chương trình KHCN và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, được phê duyệt tại Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 6/8/2026.

Chương trình đặt mục tiêu làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 sản phẩm tiếp cận được thị trường khu vực hoặc quốc tế.

Đáng chú ý, chương trình đặt mục tiêu phát triển ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược; trong đó có tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Các sản phẩm được thương mại hóa hướng tới tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.

Đây là cách tiếp cận cho thấy mục tiêu của đầu tư khoa học và công nghệ không chỉ là tạo ra công trình nghiên cứu hay sáng chế, mà phải tiến tới hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, hoàn thiện công nghệ và sản xuất sản phẩm trong nước.

Cùng với đó, Đề án tái cấu trúc xác định doanh nghiệp là trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa. Viện nghiên cứu, trường đại học giữ vai trò nòng cốt trong tạo lập tri thức mới, phát triển công nghệ lõi và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp được kỳ vọng giúp rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.

Theo các mục tiêu của Đề án, đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; tỷ lệ này tăng lên 60% vào năm 2035. Việt Nam cũng đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035.

Về sản phẩm, mục tiêu đến năm 2030 là hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm công nghệ chiến lược; đến năm 2035 có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp.

Một thay đổi quan trọng khác là phương thức quản lý và đánh giá chương trình. Thay vì chủ yếu theo dõi tiến độ, số lượng nhiệm vụ và kinh phí giải ngân, các chương trình sẽ được đánh giá theo bốn cấp độ: đầu vào, đầu ra, hiệu quả và tác động (IOOI). Trong đó, khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa và đóng góp đối với năng suất, năng lực cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế sẽ trở thành những thước đo quan trọng.

Theo lộ trình, việc rà soát, tổ chức lại 33 chương trình được thực hiện trong năm 2026; quý I/2027 hoàn thiện hướng dẫn áp dụng bộ tiêu chí đánh giá. Trên cơ sở kết quả rà soát, từng chương trình có thể tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc theo thẩm quyền, đồng thời bảo đảm không làm gián đoạn các nhiệm vụ nghiên cứu đang thực hiện.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/don-luc-lam-chu-cong-nghe-chien-luoc.html