Đồng chí Phạm Văn Đồng - tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

Với 75 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho đất nước, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đồng chí luôn tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng, vào tương lai tươi sáng của đất nước. Cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách của đồng chí là bài học quý, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh: Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh: Tư liệu

Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1/3/1906 trong một gia đình trí thức phong kiến tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Kế thừa truyền thống yêu nước của quê hương, gia đình, trong những năm 1925-1926, Phạm Văn Đồng đã tham gia phong trào đấu tranh đòi thả nhà chí sĩ Phan Bội Châu và tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Đầu năm 1927, đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 3/1929, đồng chí được bầu là Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ. Tháng 5/1929, tại Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Tổng bộ. Tháng 7/1929, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vào Khám Lớn - Sài Gòn, rồi bị kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đảo.

Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở lại Hà Nội. Tuy bị quản thúc, đồng chí vẫn tìm cách bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 5/1940, đồng chí được cử sang Côn Minh (Trung Quốc) làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho sự trở về nước của Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại đây, đồng chí Phạm Văn Đồng được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; tham gia hoạt động cách mạng ở Liễu Châu, Tĩnh Tây (Trung Quốc).

Năm 1941, trở về Cao Bằng hoạt động, đồng chí tích cực tham gia quá trình vận động, tổ chức Mặt trận Việt Minh; tham gia phụ trách báo Việt Nam độc lập, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng và các điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân. Tháng 8/1945, tại Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào, đồng chí được cử làm Ủy viên Thường trực Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời; được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.

Tháng 1/1947, đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ chỉ đạo trực tiếp công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Trung Bộ. Năm 1949, đồng chí trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng (1951 - 1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 - 1987, đồng chí được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987); kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954 - 1961); là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954). Từ năm 1986 - 1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII.

Sinh thời, đồng chí Phạm Văn Đồng là một tấm gương về đạo đức cách mạng. Ở đồng chí toát lên những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực, đó là đức tính: Tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung…

Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước giành được độc lập, trong một số chuyến công tác tại Pháp, đồng chí đã gặp gỡ, cảm hóa, thuyết phục một số trí thức Việt kiều có tên tuổi trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến, xây dựng đất nước. Bằng uy tín, trí tuệ và tấm gương nhân cách, đồng chí đã vận động, cảm hóa nhiều trí thức ở vùng địch tạm chiếm tham gia cách mạng.

Đồng chí luôn coi việc chăm lo lợi ích của Nhân dân, giải quyết những khó khăn cấp bách cho dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Ngay khi nước nhà giành độc lập, đứng trước muôn vàn khó khăn, trong đó có nạn đói cướp đi sinh mạng của gần hai triệu đồng bào, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Tài chính, thay mặt Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng ký Nghị định giảm thuế và hoãn thuế cho nông dân (1945). Được trao trọng trách đứng đầu Chính phủ, đồng chí thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành tìm cách khắc phục khó khăn, nâng cao đời sống của Nhân dân. Đồng chí luôn sẵn sàng nhận trách nhiệm về mình, trách nhiệm của các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng do Đồng chí đứng đầu, tự phê bình trước Quốc hội và Nhân dân.

Phát biểu tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng thường kỳ ngày 06/7/1987, với tinh thần trách nhiệm cao trước những khó khăn, yếu kém trong công tác quản lý, điều hành các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng chí nói: “Nếu chúng ta không suy nghĩ ngày đêm để phấn đấu cho nền kinh tế - xã hội có chuyển biến, có những bước phát triển để đời sống của nhân dân tốt hơn, đỡ khổ hơn, nếu chúng ta không làm như vậy, tôi nghĩ là chúng ta không xứng đáng”. Đồng chí coi việc phải khắc phục những yếu kém trong công cuộc đổi mới là công việc văn hóa, ai không chấp nhận điều đó là “vô văn hóa”. Đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về sự nỗ lực, cống hiến cho Đảng, cho Nhân dân, cho đất nước. Với đồng chí, bạn bè, đồng chí luôn dành tình cảm chân thành, kính trọng.

Vào những dịp kỷ niệm trọng thể ngày sinh hay ngày mất của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, Chủ tịch Tôn Đức Thắng… đồng chí đều có những bài viết, bài nói ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp vì Đảng, vì nước, vì dân của các đồng chí lãnh đạo tiền bối, vừa bày tỏ sự kính trọng, tôn vinh, vừa góp phần giáo dục chính trị, tư tưởng và truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Với các bạn chiến đấu cùng thời, các bạn tù Côn Đảo lúc về già, tuổi cao, sức yếu, đồng chí thường xuyên thăm hỏi thân tình. Với các trí thức, văn nghệ sĩ, đồng chí Phạm Văn Đồng vừa là người anh, vừa là người bạn lớn chân thành. Nhiều nhà văn, nhà thơ, thầy giáo coi những lời động viên, khích lệ, nhận xét chân thành của đồng chí Phạm Văn Đồng về tác phẩm và công việc của họ như những món quà tinh thần quý giá, những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời. Hình ảnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng trên trận địa phòng không, bệnh viện, trường học, công trường, xưởng máy, trên những cánh đồng ân cần thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp Nhân dân đã trở thành nguồn cổ vũ động viên to lớn.

Trong lòng bạn bè quốc tế, đồng chí Phạm Văn Đồng giành được sự kính trọng, cảm phục không chỉ bởi vị thế của một nhà lãnh đạo có uy tín lớn, một nhà ngoại giao tài năng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, mà còn bởi đồng chí là một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi vì hòa bình, hữu nghị và tiến bộ giữa các dân tộc. Những lời thăm hỏi ân cần, chia sẻ sâu sắc trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, địch họa là nguồn động viên, an ủi kịp thời đối với nhân dân nước bạn. Hình ảnh đồng chí trong những lần đi công tác tại nhiều nước, đến thăm các địa phương và cơ sở sản xuất mãi in đậm trong ký ức nhân dân và bạn bè quốc tế về một người bạn lịch thiệp, cởi mở, tin cậy, ân cần, gần gũi. Giản dị, khiêm tốn, ghét thói phô trương là nét nổi bật trong nhân cách Phạm Văn Đồng.

Khi còn là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, đồng chí đề nghị mượn nhà dân làm nơi làm việc của cơ quan; đi lại bằng xe đạp, ngựa, hoặc đi bộ; ăn uống, sinh hoạt đều chung với anh em cán bộ. Khi trở lại Việt Bắc, nơi ở và làm việc của đồng chí là hầm kèo hoặc hang núi. Trở về Hà Nội, dù trên cương vị lãnh đạo cấp cao hay khi đã thôi giữ các chức vụ công tác, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn sống giản dị, liêm khiết, mẫu mực, khiêm nhường. Với những người thân trong gia đình và quê hương Quảng Ngãi, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn dành tình cảm sâu nặng, nghĩa tình, đúng đạo lý. Đồng chí Phạm Văn Đồng từ trần ngày 29/4/2000, hưởng thọ 94 tuổi.

Cuộc đời và sự nghiệp, công lao và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; về lòng tin mãnh liệt ở lý tưởng cách mạng cao đẹp, tình thương yêu đồng chí, đồng bào; sống giản dị, chan hòa cùng với Nhân dân, vì Nhân dân.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng trong không khí cả nước phấn khởi thi đua chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tưởng nhớ và tri ân công lao, đóng góp của đồng chí Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, chúng ta nguyện ra sức thi đua học tập, lao động, công tác và chiến đấu, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý chí tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV đi vào cuộc sống, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

T.N

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/dong-chi-pham-van-dong-tam-guong-sang-ngoi-ve-dao-duc-cach-mang-3185781.html