Đóng góp nhiều ý kiến từ thực tiễn địa phương vào các dự thảo luật, nghị quyết

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 20-10, Quốc hội thảo luận tại tổ vào dự án Bộ Luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm cơ chế thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội; dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi).

Tháo gỡ vướng mắc trong hợp tác quốc tế cấp địa phương

Tham gia thảo luận vào dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu Lý Thị Lan cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật Thỏa thuận quốc tế và các nội dung của dự thảo Luật. Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Lý Thị Lan tham gia một số nội dung cụ thể.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ sáng 20-10.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ sáng 20-10.

Về thẩm quyền ký kết thỏa thuận quốc tế sau khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đặc biệt đối với các địa phương biên giới. Đại biểu tán thành việc dự thảo Luật mở rộng chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế. Đại biểu dẫn chứng thực tế tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2021 đến nay, các cơ quan, đơn vị của tỉnh đã ký kết 129 thỏa thuận quốc tế, trong đó có 34 thỏa thuận cấp tỉnh và 95 thỏa thuận thuộc nhóm sở, ngành và một số chính quyền cấp huyện, cấp xã biên giới. Các hoạt động hợp tác với địa phương phía Trung Quốc được triển khai trên nhiều lĩnh vực, nhất là quản lý biên giới, giao lưu hữu nghị và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc xác định chủ thể có thẩm quyền ký kết và triển khai hợp tác với các cơ quan chính quyền nước ngoài ở cấp hành chính mà phía Việt Nam không còn tổ chức tương ứng.

Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ nguyên tắc xác định chủ thể có thẩm quyền ký kết trong trường hợp không có cấp chính quyền tương ứng với phía nước ngoài; đồng thời có quy định giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể đối với những hoạt động hợp tác biên giới có tính chất đặc thù, bảo đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan.

Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh phát biểu thảo luận.

Đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh phát biểu thảo luận.

Về phân định thẩm quyền và trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã trong ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế. Đại biểu đề nghị nghiên cứu chỉnh lý khoản 4 Điều 2, đồng thời bổ sung Điều 38 và Điều 41 quy định về trách nhiệm của UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã trong tổ chức thực hiện thỏa thuận quốc tế; bảo đảm sự thống nhất với các nguyên tắc phân định thẩm quyền và trách nhiệm theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Về nâng cao chất lượng ký kết và hiệu quả thực hiện thỏa thuận quốc tế. Từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, đại biểu nhấn mạnh, những thỏa thuận có nội dung hợp tác liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, việc xem xét trước khi ký kết cần làm rõ được mục tiêu hợp tác, điều kiện thực hiện, trách nhiệm phối hợp và các yêu cầu của pháp luật chuyên ngành. Do đó cần nghiên cứu bổ sung nội dung cơ bản của đề xuất ký kết thỏa thuận quốc tế, trong đó làm rõ mục tiêu, lợi ích cụ thể; tính khả thi; điều kiện, nguồn lực thực hiện; trách nhiệm của cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp. Đồng thời, cần làm rõ hơn trách nhiệm theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện sau ký kết.

Quy định rõ thẩm quyền Tòa án quân sự và tố tụng điện tử

Phát biểu thảo luận, đại biểu Hoàng Ngọc Định cơ bản tán thành với dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi). Về tố tụng điện tử, đại biểu tán thành việc xác định hoạt động tố tụng điện tử là một nguyên tắc của Bộ luật.

Về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, đại biểu đề nghị bổ sung các đối tượng và khách thể của tội phạm được pháp luật bảo vệ thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự. Việc bổ sung nhằm quy định đầy đủ các đối tượng quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu, dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng, công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

Thận trọng, chặt chẽ trong cơ chế thu hồi tài sản không qua kết tội

Tham gia thảo luận vào Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm cơ chế thu hồi và xử tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội, đại biểu Nguyễn Việt Hà cơ bản thống nhất với sự cần thiết nghiên cứu, xây dựng cơ chế thí điểm thu hồi và xử lý tài sản liên quan đến tội phạm không qua kết tội. Đại biểu cho rằng, đây là cơ chế có thể góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản cho Nhà nước, khơi thông các nguồn lực đang tắc nghẽn để đưa vào tái sử dụng phục vụ cho xã hội, việc đưa ra thí điểm là cần thiết, thể hiện sự thận trọng trong áp dụng cơ chế chính sách mới.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu xem xét một số nội dung: Về phạm vi điều chỉnh tại khoản 1 Điều 1 về thẩm quyền yêu cầu toà án giải quyết vụ việc dân sự.

Đồng chí Hoàng Ngọc Định, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phát biểu thảo luận.

Đồng chí Hoàng Ngọc Định, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phát biểu thảo luận.

Về nguyên tắc thực hiện, đại biểu đề nghị rà soát làm rõ, phân biệt giữa khái niệm người thứ ba và người thứ 3 ngay tình vì trường hợp người thứ ba tại khoản 4 trong trường hợp không biết và không thể biết tài sản mình mua bán, trao đổi là tài sản thuộc đối tượng cần thu hồi thì họ cũng trở thành người thứ 3 ngay tình.

Về các trường hợp áp dụng cơ chế thu hồi tài sản tại khoản 3 Điều 7, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, bổ sung vào khoản này trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hiện hành để bổ sung cho đầy đủ, đảm bảo không bỏ lọt tài sản cần thu hồi không qua xét xử.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 11. Đại biểu đề nghị bổ sung, làm rõ nội dung xác minh tại khoản 1 Điều 11 “quyền sở hữu tài sản”. Về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự tại Điều 13. Đại biểu đề nghị làm rõ cơ quan chủ trì và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan tại khoản 1...

Tránh chồng chéo thủ tục và bảo đảm tính minh bạch khi ban hành thỏa thuận

Góp ý dự thảo Luật Thỏa thuận quốc tế, đại biểu Vương Thị Hương nhấn mạnh: Về sự thống nhất giữa thẩm quyền và trình tự quyết định ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh cơ quan trung ương của tổ chức, theo đó, tại Điều 16 về thẩm quyền ký kết có quy định: người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức quyết định việc ký kết thỏa thuận quốc tế sau khi có văn bản đồng ý của cơ quan quản lý hoạt động đối ngoại của tổ chức. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 17 lại quy định trình tự, thủ tục ký kết là: Cơ quan trung ương của tổ chức nghiên cứu, tiếp thu ý kiến và trình cơ quan quản lý hoạt động đối ngoại quyết định việc ký kết thỏa thuận quốc tế. Sự thiếu rõ ràng này không chỉ ảnh hưởng đến trình tự xử lý hồ sơ mà còn gây khó khăn khi xác định trách nhiệm đối với quyết định cho ký. Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 3 Điều 17 để cụ thể hóa đúng thẩm quyền đã được xác định tại Điều 16.

Đồng chí Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tuyên Quang phát biểu thảo luận.

Đồng chí Nguyễn Việt Hà, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tuyên Quang phát biểu thảo luận.

Về xác định cơ quan đầu mối khi ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh nhiều cơ quan, tổ chức, quy định tại Điều 21 dự thảo Luật. Đại biểu đề xuất cần phải có cơ chế giải quyết bất đồng về phân công, không để việc lựa chọn đầu mối trở thành trở ngại với một nhu cầu hợp tác mà các bên đã thống nhất. Đối với nhiều đơn vị hành chính cấp xã trong cùng một tỉnh, đại biểu đề nghị bổ sung, chỉnh lý Điều 21 theo hướng: khi các bên đã cùng thống nhất tham gia ký kết và cần thực hiện thủ tục chung nhưng không thống nhất được đầu mối thì cũng phải báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để xem xét phân công.

Về hiệu lực của thỏa thuận quốc tế, quy định tại Điều 27, đại biểu Vương Thị Hương cho rằng quy định này đang lấy ngày ký làm mốc xác định hiệu lực, hiện vẫn chưa bao quát đầy đủ các hình thức ký kết đã được chính dự thảo Luật thiết kế. Do đó, cần bổ sung thêm nguyên tắc xác định thời điểm có hiệu lực cho từng hình thức ký kết, quy định khoản 2 Điều 27 theo hướng ưu tiên thời điểm có hiệu lực do các bên thống nhất bằng văn bản khi nội dung này chưa được quy định trong thỏa thuận.

Đồng chí Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ phát biểu thảo luận.

Đồng chí Vương Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND xã Pà Vầy Sủ phát biểu thảo luận.

Về việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức liên quan theo trình tự, thủ tục rút gọn, quy định tại Điều 32, đề nghị bổ sung cơ chế xử lý khi quá thời hạn lấy ý kiến; đồng thời đề nghị chỉnh lý tương ứng khoản 2 Điều 25: cơ quan đề xuất phải xác định là đã gửi đủ hồ sơ đúng cơ quan, ghi nhận thời điểm nộp hồ sơ và đôn đốc, báo cáo rõ cơ quan chưa trả lời, nội dung chưa có ý kiến và ảnh hưởng của việc thiếu ý kiến đối với căn cứ quyết định. Cơ quan chậm trả lời cũng phải giải trình lý do và chịu trách nhiệm về sự chậm trễ thuộc phạm vi của mình....

Tin, ảnh: PV

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/thoi-su-chinh-tri/tin-trong-tinh/202610/dong-gop-nhieu-y-kien-tu-thuc-tien-dia-phuong-vao-cac-du-thao-luat-nghi-quyet-1e64483/