Đông Hà, chiều sâu của đất

Nhắc tới Đông Hà, người ta hay nghĩ về hình ảnh phố phường tấp nập, văn minh, hiện đại. Ngay cạnh làng Điếu Ngao, nay thuộc phường Nam Đông Hà, là Cảng quân sự Đông Hà, một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt. Nhưng còn một Đông Hà nữa, ít ồn ào hơn, nằm ở phía Tây, cũng đã và đang tạo nên điểm nhấn của một đô thị trẻ.

Nếu làng Tây Trì (nay thuộc phường Đông Hà), làng Điếu Ngao (nay thuộc phường Nam Đông Hà) được xem là những làng cổ nằm ở trung tâm đô thị Đông Hà ngày nay, thì khu vực phường 3 (cũ), nay thuộc phường Đông Hà cũng mang dấu ấn đặc biệt với hạt nhân là làng cổ Đông Hà, nơi đã hình thành cách đây hàng trăm năm.

Đình làng Trung Chỉ là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Ảnh: P.X.D

Đình làng Trung Chỉ là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Ảnh: P.X.D

Theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn, làng Đông Hà xưa thuộc tổng An Lạc, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong. Đơn vị hành chính này tồn tại cho đến thời Pháp thuộc, nay thuộc phường Đông Hà (phường 3, TP. Đông Hà cũ). Làng Đông Hà có vị trí địa lý thuận lợi như gần sông, gần chợ, về sau lại gần tuyến đường sắt Bắc-Nam nên người dân dễ bề sinh cơ lập nghiệp. Người dân nơi đây có thể trồng lúa, trồng rau, nuôi cá, nuôi tôm và buôn bán chạy chợ. Theo thời gian, từ vài hộ dân ban đầu, nơi đây đã hình thành cộng đồng gồm 11 họ tộc gắn kết tình làng, nghĩa xóm, xây dựng quê hương qua nhiều biến động lịch sử.

Có lần đến thăm nơi thành lập chi bộ Đảng ở làng Đông Hà, tôi được cán bộ và người dân kể rằng, trong đêm trường nô lệ, đồng chí Nguyễn Đức Kỳ cùng những người yêu nước đã giác ngộ cách mạng, thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của khu vực Đông Hà với những thành viên đến từ các làng Đông Hà, Tây Trì, Thiết Tràng, quyết tâm cùng đồng bào giành lại độc lập, tự do. Đồng chí Nguyễn Đức Kỳ cũng chính là thân sinh của đồng chí Nguyễn Đức Hoan, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, một nhà lãnh đạo uy tín, được đồng chí, đồng bào quý trọng và có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước.

Theo "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An, ra đời vào giữa thế kỷ XVI, vùng đất này đã có một số làng như Điếu Ngao, Trung Chỉ, Tây Trì... cùng Thiên Áng, Tiểu Áng-về sau đổi thành Đại Áng và giữ nguyên tên gọi cho đến ngày nay. Điều thú vị là tên làng cũng chính là tên khu phố: Khu phố Đại Áng thuộc phường Nam Đông Hà. Đây là ngôi làng có địa hình bằng phẳng, phong cảnh hữu tình, dân cư thuần hậu. Làng tọa lạc gần sông Thạch Hãn và các trục giao thông quan trọng nên xưa nay được xem là hội đủ 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Nghi lễ đình làng Đại Áng - Ảnh: P.X.D

Nghi lễ đình làng Đại Áng - Ảnh: P.X.D

Cách làng Đại Áng không xa là một ngôi làng có nguồn gốc từ quê hương Đại Áng, đó là làng Đại An, tên hành chính là khu phố 10, phường 5, TP. Đông Hà (cũ), nay thuộc phường Nam Đông Hà. Làng Đại An có tuổi đời hơn 1 thế kỷ, do một vị quan người làng Đại Áng thấy dân tình phiêu tán, ngụ cư nên tập hợp lại, đưa lên phía Tây Đông Hà chừng 1km để lập làng. Từ đó, làng Đại An tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.

Làng cổ Trung Chỉ, theo truyền tụng, được hình thành vào thời Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558. Theo sách "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An, vào giữa thế kỷ XVI, trong 59 làng cổ của huyện Võ Xương đã có 13 làng thuộc vùng đất Đông Hà, trong đó có làng Trung Chỉ. Trước đây, làng Trung Chỉ thuộc xã Triệu Lương, huyện Triệu Phong; nay tên làng vẫn được giữ nguyên và khu phố tương ứng cũng mang tên Trung Chỉ, một may mắn không phải làng nào cũng có được trong quá trình đô thị hóa.

Làng Trung Chỉ có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời. Trong các công trình tâm linh nơi đây, đáng chú ý nhất là đình làng. Thuở ban sơ mới lập làng, đình được xây dựng bằng tranh tre nứa lá. Sau khi ổn định cuộc sống, dân làng mới có điều kiện dựng đình vững chãi hơn. Ngôi đình hiện tại đã có tuổi đời gần 2 thế kỷ, được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn. Đây là một trong số ít ngôi đình cổ còn khá nguyên vẹn trên đất Quảng Trị.

Dù trải qua nhiều biến động lịch sử, vị trí đình làng hầu như không thay đổi. Đình mang kiến trúc nhà rường cổ 3 gian 2 chái, mái lợp ngói, cột và cửa làm bằng gỗ quý. Những hoa văn trang trí, hình chạm trổ khá tinh xảo đã tạo cho ngôi đình một vẻ đẹp riêng có. Chính tại ngôi đình này, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cán bộ và quần chúng cách mạng đã nhất tề vùng lên hưởng ứng tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay Nhân dân. Ngôi đình này cũng từng là địa điểm bỏ phiếu trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội nước Việt Nam năm 1946.

Nhờ những giá trị lịch sử cùng kiến trúc độc đáo, giàu truyền thống, ngôi đình đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Qua hàng trăm năm, nơi đây trở thành chốn linh thiêng mà gần gũi, hun đúc linh khí của làng, trao truyền cho bao thế hệ người dân.

Phạm Xuân Dũng

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/dat-va-nguoi-quang-tri/202605/dong-ha-chieu-sau-cua-dat-59e4e4c/