Đột phá thể chế mở đường cho kỷ nguyên phát triển mới

Để hiện thực hóa hai mục tiêu trăm năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đặt 'đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển' lên vị trí hàng đầu trong ba đột phá chiến lược. Ông NGUYỄN VĂN PHÚC, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng đột phá về thể chế phát triển không chỉ yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn cần phải quan tâm xây dựng, phát huy hệ thống các chuẩn mực xã hội khác.

Thể chế không chỉ có pháp luật...

KTSG: Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đặt “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển” lên vị trí đầu tiên trong ba đột phá chiến lược. Theo ông, điều gì khiến “thể chế” trở thành đột phá quan trọng nhất?

Ông Nguyễn Văn Phúc

Ông Nguyễn Văn Phúc

- Ông Nguyễn Văn Phúc: Lịch sử và thực tiễn cho thấy, các quốc gia cũng như các địa phương trong mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên và nguồn lực giống nhau nhưng khác nhau về thể chế thì kết quả phát triển hoàn toàn khác biệt. Ở đâu có thể chế tốt, ở đó sẽ thịnh vượng và ngược lại.

Ở nước ta, cải cách thể chế không phải là câu chuyện mới. Qua nhiều kỳ đại hội, Đảng ta đều xác định đây là một trong ba đột phá chiến lược và luôn đặt ở vị trí đầu tiên. Đến nay, nhận thức đã đầy đủ, rõ hơn, chín muồi hơn. Thể chế được xác định là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế là “đột phá của đột phá”.

Sau 40 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu vô cùng to lớn và quan trọng. Thế nhưng, so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới thì khoảng cách phát triển vẫn còn khá xa. Nước ta vừa mới đạt được mức thu nhập trung bình cao nhưng chưa bền vững, vẫn còn nguy cơ tụt hậu, rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Không có doanh nghiệp nào, dù lớn đến đâu, có thể phát triển bền vững nếu không dựa vào nguồn lực từ người dân. Mọi dòng vốn trong nền kinh tế đều bắt nguồn từ người dân. Do đó, thể chế kinh tế tư nhân trước hết phải thật sự tạo được niềm tin và sự an toàn cho nhà đầu tư, phải bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền thụ hưởng lợi ích chính đáng của họ... Có như vậy, người dân mới sẵn sàng bỏ vốn ra đầu tư, kinh doanh.

Vì sao Việt Nam vẫn chưa bứt phá mạnh mẽ? Một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất như Đảng đã xác định là do thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Chúng ta nói nhiều đến đổi mới sáng tạo, cách mạng công nghiệp 4.0, kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI), kỷ nguyên vươn mình, tăng trưởng hai con số... - tất cả những điều đó đều vận hành trong một khuôn khổ thể chế. Thể chế mà chưa thông thì mọi nguồn lực tăng trưởng và phát triển - từ con người, vốn liếng đến khoa học công nghệ... đều bị kìm hãm. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đặt vấn đề cải cách, đột phá về thể chế phát triển với quyết tâm chính trị cao nhất.

KTSG: Lần này, đột phá thể chế phát triển cần bắt đầu từ đâu, thưa ông?

- Theo tôi, vẫn phải bắt đầu từ tư duy, nhận thức, tức là cần quan niệm đúng đắn, đầy đủ và thống nhất về thể chế, nhất là trong bối cảnh phát triển mới.

Nói đến thể chế, chúng ta thường nghĩ ngay đến hệ thống pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật. Cách hiểu này đúng, nhưng chưa đủ. Thể chế gồm các quy tắc và cơ chế thực thi các quy tắc do con người (và các tổ chức của con người như Nhà nước, cộng đồng, hội, đoàn...) đặt ra để tạo khuôn khổ, ràng buộc, điều chỉnh, định hình các tương tác, các quan hệ giữa con người với nhau (giữa các chủ thể: cá nhân, Nhà nước, cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp...). Douglass North, nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel về nghiên cứu thể chế cho rằng thể chế là “luật chơi” trong xã hội.

Về tính chất, có thể chế chính thức và thể chế phi chính thức. Chúng ta có thuật ngữ “luật lệ” - có thể gọi thể chế chính thức là luật, thể chế phi chính thức là lệ.

Nói một cách cụ thể hơn, thể chế chính thức là hệ thống pháp luật, bao gồm Hiến pháp, luật, văn bản dưới luật do Nhà nước ban hành và tổ chức thi hành hoặc có cơ chế tự thi hành giữa các chủ thể. Thể chế chính thức còn bao gồm cả hệ thống các điều ước quốc tế mà Nhà nước ký kết hoặc gia nhập.

Thể chế phi chính thức cũng do con người, do xã hội đặt ra mà không do Nhà nước ban hành nhưng được Nhà nước công nhận hoặc không trái với pháp luật như phong tục, tập quán, luật tục, thông lệ, lễ nghi, lề lối, cách ứng xử, các chuẩn mực văn hóa, đạo đức và các chuẩn mực xã hội khác. Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đề cập đến xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam..., trong đó cũng có thể chế phi chính thức.

KTSG: Thể chế phi chính thức có vai trò như thế nào trong tiến trình đột phá thể chế, thưa ông?

- Thể chế phi chính thức giữ vai trò rất quan trọng trong việc đồng hành, bổ sung, hỗ trợ và tạo môi trường thực hiện hiệu quả thể chế chính thức; thậm chí, trong nhiều trường hợp còn được ưu tiên sử dụng để điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội.

Thể chế được xác định là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế là “đột phá của đột phá”. Ảnh: VGP

Thể chế được xác định là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế là “đột phá của đột phá”. Ảnh: VGP

Chúng ta có thể quan sát, nhận biết các thực tiễn sinh động. Cùng thực hiện Luật Giao thông, nhưng nếu mọi người tham gia giao thông còn có ý thức tôn trọng các chuẩn mực văn hóa giao thông thì vi phạm, xung đột và ùn tắc sẽ giảm đi rất nhiều. Hay như trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), vì sao có sự chênh lệch khá lớn giữa các địa phương đứng tốp đầu và tốp cuối, trong khi về cơ bản đều thực thi cùng một hệ thống pháp luật? Câu trả lời có thể tìm thấy từ chất lượng thể chế phi chính thức ở địa phương như thái độ, cách ứng xử, lề lối làm việc, tinh thần phục vụ nhà đầu tư, doanh nghiệp và văn hóa, đạo đức công vụ nói chung. Hoặc ở các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có những trường hợp, luật tục có hiệu quả hơn trong việc bảo vệ rừng và môi trường sống của cộng đồng.

Bởi vậy, đột phá về thể chế, nếu muốn đi đến tận gốc, không thể chỉ dừng lại ở việc sửa đổi hay ban hành thêm văn bản pháp luật mà cần đồng thời nuôi dưỡng và nâng tầm những giá trị của thể chế phi chính thức. Đó là một phần quan trọng của hệ sinh thái thể chế để các quy định pháp luật được thực thi hiệu lực, hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hài hòa.

KTSG: Vậy còn “thể chế phát triển”, chúng ta nên hiểu như thế nào?

- Khi nói đến “thể chế phát triển” tức là nhấn mạnh vai trò kiến tạo phát triển, mở rộng không gian phát triển, khơi thông nguồn lực, tạo thuận lợi, thúc đẩy phát triển, nhấn mạnh đến tính bao trùm hay dung hợp (inclusive) của thể chế, chứ không chỉ coi thể chế là khuôn khổ, là các quy tắc ràng buộc vì mục đích quản lý, càng không phải là thể chế loại trừ hay tước đoạt (extractive).

Thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng đã chứng minh thể chế phát triển có vai trò đặc biệt quan trọng như thế nào. Các luật về kinh tế có tính đột phá như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, các luật về doanh nghiệp... và bước ngoặt là Hiến pháp năm 1992 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa mệnh lệnh, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại và hội nhập.

Các nghị quyết của Bộ Chính trị thời gian gần đây đều đề cập đến thể chế phát triển trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế đến y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế. Bộ Chính trị còn ban hành Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành Nghị quyết về chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013, được thể chế hóa bằng Nghị quyết của Quốc hội, làm cơ sở hiến định cho việc triển khai tinh gọn tổ chức bộ máy, đặc biệt là tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

Thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, chỉ riêng năm 2025, Quốc hội đã thông qua 85 luật và hơn 50 nghị quyết, trong đó có 22 nghị quyết có tính quy phạm pháp luật để tiếp tục cải cách, đột phá mạnh mẽ thể chế phát triển của nước ta trong thời gian tới.

Thiết kế lại thể chế về vai trò mới của kinh tế nhà nước

KTSG: Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển sang mô hình phát triển mới, theo ông, đột phá thể chế phát triển cần đặt trọng tâm vào đâu?

- Tôi cho rằng, vẫn cần phải tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại và hội nhập. Thể chế phải được thiết kế để phục vụ mô hình phát triển mới, cơ cấu lại nền kinh tế và mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng ổn định vĩ mô và hài hòa về mặt xã hội.

Theo đó, thể chế cần được thiết kế để phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; còn kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất. Hai quan điểm này không hề triệt tiêu lẫn nhau. Mỗi khu vực kinh tế có sứ mệnh riêng, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói, chỉ khi từng khu vực vận hành đúng vai trò của mình thì nền kinh tế mới phát triển bền vững.

Chúng ta cũng không nên hiểu cứng nhắc và bất biến về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

KTSG: Theo ông, nội hàm và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nên được hiểu ra sao trong bối cảnh mới?

- Nội hàm kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế này có thể thay đổi trong từng giai đoạn phát triển. Khi khu vực kinh tế tư nhân mới hình thành, còn yếu, chưa thể đảm đương những việc lớn, thì kinh tế nhà nước phải tiên phong “xông trận”, “dẫn dắt” thông qua đầu tư công, các gói hỗ trợ, hay sự can thiệp cần thiết để ổn định nền kinh tế... Nay, khu vực tư nhân đã mạnh hơn, hiệu quả hơn, có thể đảm nhận những dự án, công trình lớn của quốc gia thì vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và đầu tư vào những lĩnh vực, địa bàn, dự án, công trình mà tư nhân không muốn đầu tư, không thể đầu tư và các dự án, công trình đặc biệt liên quan đến quốc phòng và an ninh.

Chính vì vậy, thời gian tới, thể chế kinh tế nhà nước cần được thiết kế lại theo nội dung và tinh thần của Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, phù hợp với vai trò chủ đạo trong bối cảnh, điều kiện phát triển mới. Theo đó, kinh tế nhà nước không phải chỉ gồm các doanh nghiệp nhà nước, không còn là “quốc doanh” như trước đây.

KTSG: Ý ông là phạm vi cải cách thể chế kinh tế nhà nước phải mở rộng hơn?

- Đúng vậy! Như Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị đã xác định, ngoài doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, kinh tế nhà nước còn bao gồm toàn bộ tài sản công và tài chính công, tài nguyên quốc gia, cả hữu hình và vô hình.

Với tài nguyên, tài sản hữu hình như đất đai, rừng, nguồn nước, khoáng sản... có tính hữu hạn - thời gian qua thất thoát, lãng phí lớn thì thể chế phải hướng tới bảo vệ và khai thác hiệu quả, tiết kiệm vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tài nguyên, tài sản vô hình như không gian phát triển, cảnh quan, đặc biệt là thắng cảnh, vùng biển, vùng trời, tần số, dữ liệu quốc gia được số hóa, tài sản trí tuệ, tài sản số, các giá trị văn hóa phi vật thể... có thể nói là vô hạn, là những nguồn lực phát triển cực kỳ quan trọng trong kỷ nguyên mới. Nhà nước cần xây dựng, phát triển các thể chế mới để nhận dạng, xác định giá trị, khai thác, sử dụng hiệu quả, phù hợp với nền kinh tế hiện đại, hội nhập gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh kinh tế.

Thể chế kinh tế tư nhân phải thật sự tạo được niềm tin

KTSG: Vậy còn thể chế phát triển kinh tế tư nhân?

- Lâu nay, nhắc đến kinh tế tư nhân, chúng ta thường nghĩ ngay đến doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh, như vậy là chưa đủ.

Trên thực tế, chủ thể kinh tế tư nhân còn bao gồm cả những cá nhân không trực tiếp kinh doanh nhưng bỏ tiền đầu tư, như mua trái phiếu, cổ phiếu, hay đầu tư gián tiếp khi gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng thương mại hoặc ủy thác đầu tư tại các quỹ đầu tư... Bằng cách này, rất nhiều người dân đang tham gia vào khu vực kinh tế tư nhân. Ở nông thôn, kinh tế tư nhân còn bao gồm hàng chục triệu hộ sản xuất nông nghiệp. Đây là nguồn lực rất lớn, phát triển gần như vô tận, chứ không gói gọn trong hơn năm triệu hộ kinh doanh hay gần một triệu doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hiện nay.

Không có doanh nghiệp nào, dù lớn đến đâu, có thể phát triển bền vững nếu không dựa vào nguồn lực từ người dân. Mọi dòng vốn trong nền kinh tế đều bắt nguồn từ người dân. Do đó, thể chế kinh tế tư nhân trước hết phải thật sự tạo được niềm tin và sự an toàn cho nhà đầu tư, phải bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền thụ hưởng lợi ích chính đáng của họ... Có như vậy, người dân mới sẵn sàng bỏ vốn ra đầu tư, kinh doanh.

Trong kinh tế tư nhân, tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm về vai trò của các hộ kinh doanh và các hộ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.

KTSG: Vì sao, thưa ông?

- Tôi cho rằng đây thực sự là “bà đỡ”, là vùng đệm của nền kinh tế ở nước ta, tạo ra công ăn, việc làm, sinh kế cho hàng chục triệu người dân, giúp chống chịu các cú sốc về kinh tế - xã hội và là nền tảng cho sự hình thành của nhiều doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đang thiếu một khuôn khổ thể chế đầy đủ và đồng bộ.

Theo tôi, đã đến lúc cần nghiên cứu và ban hành Luật về hộ kinh doanh và cần có thể chế mới phù hợp với các hộ sản xuất nông nghiệp nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng, ổn định, hỗ trợ, khuyến khích họ yên tâm mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, theo hướng văn minh, hiện đại; trong đó có nhiều hộ kinh doanh, hộ sản xuất nông nghiệp có thể chuyển thành doanh nghiệp.

KTSG: Trong quá trình hoàn thiện thể chế để tạo đột phá phát triển, theo ông, cần lưu ý điều gì?

- Có nhiều điều cần phải lưu ý, có nhiều việc cần phải làm. Trong đó, có ba vấn đề xin được nhấn mạnh.

Một là, khi xây dựng thể chế kinh tế, cần coi trọng hoạt động phân tích chính sách kinh tế và đánh giá tác động của chính sách, bảo đảm hình thành thể chế kinh tế phù hợp với các quy luật kinh tế, các quy luật, nguyên tắc của thị trường vận hành trong điều kiện của nước ta. Việc này hiện chưa thật sự được đầu tư nghiên cứu thích đáng và đúng cách. Quy định về cơ chế và phương pháp định giá đất vừa qua là một ví dụ điển hình.

Hai là, cần có bộ máy, con người có kiến thức, phương pháp, kỹ thuật và kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật và xây dựng cơ chế thực thi pháp luật khoa học và chuyên nghiệp. Nhà nước cần đối xử với việc đầu tư xây dựng hệ thống pháp luật như đầu tư phát triển, trong đó có đầu tư xây dựng, kiện toàn bộ máy, nhân lực. Xây dựng pháp luật hiện còn thiếu tính khoa học và nặng về nghiệp dư.

Ba là, điểm yếu nhất hiện nay vẫn là cơ chế thi hành pháp luật, trong đó có việc tổ chức thi hành pháp luật từ phía bộ máy nhà nước. Việc áp dụng công nghệ trong cơ chế tự động thi hành và tổ chức thi hành pháp luật là một giải pháp hữu hiệu. Việc các chuẩn mực văn hóa, đạo đức và các quy tắc phi chính thức khác được kết hợp vận dụng hài hòa với các quy định, các chế tài của pháp luật là hết sức cần thiết, không thể coi nhẹ. Khi mọi người thấy tự động chấp hành pháp luật là có lợi và ý thức được rằng chấp hành pháp luật là đạo đức, là văn hóa, văn minh, trở thành thói quen, tập quán kết hợp đức trị với pháp trị và khi công nghệ được áp dụng hữu hiệu thì chắc chắn rằng việc thi hành pháp luật sẽ nhẹ nhàng hơn, bộ máy thực thi pháp luật sẽ tinh gọn hơn, chi phí tuân thủ và thi hành sẽ giảm rõ rệt.

An Nhiên

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/dot-pha-the-che-mo-duong-cho-ky-nguyen-phat-trien-moi/