Đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Năm 2025 và 5 năm (2021 – 2025), việc thể chế hóa và triển khai những chủ trương, chính sách có tính chiến lược của Đảng đã bắt đầu có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tham quan triển lãm quốc tế về đổi mới sáng tạo với chủ đề “Công nghệ chiến lược - Định hình tương lai Việt Nam”. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tham quan triển lãm quốc tế về đổi mới sáng tạo với chủ đề “Công nghệ chiến lược - Định hình tương lai Việt Nam”. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Khoa học công nghệ tiên phong mở đường

Đất nước ta đang ở thời điểm bước ngoặt, tiến vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, như lời phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm. Đảng viên và nhân dân cả nước tin rằng với đường lối, khát vọng để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo, lấy người dân làm trung tâm, doanh nghiệp làm động lực, thể chế làm nền tảng thì Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên mạnh mẽ, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ 21 theo mục tiêu, định hướng, chiến lược mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra.

Để làm được điều này thì những đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải tiên phong mở đường. Trong năm 2025, Việt Nam đã duy trì xếp hạng thứ 44/139 nền kinh tế về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, xếp thứ 6/40 về chỉ số AI thế giới năm 2025. Tuy nhiên, để phát triển bền vững đất nước, bên cạnh việc phát triển khoa học, công nghệ cũng cần có những giải pháp để phát triển các ngành khoa học xã hội, nhân văn. Bởi vì, có thể nói khoa học tự nhiên và công nghệ giúp con người làm được nhiều hơn thì khoa học xã hội giúp con người hiểu đúng hơn về chính mình và xã hội mình đang sống.

Ông Hoàng Minh Hiếu, Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An cho biết, trong thời gian vừa qua, nền khoa học xã hội Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng còn nhiều tồn tại, thách thức. Trước hết, đó là sự kết nối của kết quả nghiên cứu khoa học xã hội với việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội còn có nhiều hạn chế. Thực tế hiện nay, có tình trạng nhiều đề tài nghiên cứu khoa học xã hội chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu thực tế của cuộc sống và việc hoạch định chính sách của Nhà nước. Nghiên cứu khoa học xã hội nhiều khi mới dừng lại ở mức công bố kết quả mà chưa được chuyển thành các chính sách hoặc giải pháp cụ thể có hiệu quả. Bên cạnh đó, việc xây dựng chính sách trong một số trường hợp cũng chưa sử dụng tối đa kết quả nghiên cứu khoa học xã hội như là một công cụ thiết kế chính sách và đo lường tác động của xã hội.

Bên cạnh đó, cơ chế tài chính và tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội còn chưa linh hoạt, chưa tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu; nhiều chủ trương, chính sách phát triển khoa học, công nghệ ở nước ta cho đến nay cơ bản là xây dựng chung cho cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhưng xuất phát từ thực trạng và yêu cầu của khoa học tự nhiên và công nghệ hơn là khoa học xã hội và nhân văn; trong khi đó khoa học xã hội nghiên cứu con người và các mối quan hệ xã hội vốn luôn biến đổi và gắn với giá trị văn hóa và bối cảnh chính trị. Do đó, phương pháp tiếp cận của khoa học xã hội không thể áp dụng tương tự như từ các mô hình khoa học tự nhiên mà cần cơ chế tài trợ, đánh giá, công nhận và triển khai linh hoạt hơn dựa trên chất lượng học thuật và giá trị xã hội chứ không chỉ dựa trên việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Tiếp đó là hạ tầng dữ liệu, phương pháp nghiên cứu chuyển đổi số cho khoa học xã hội còn chậm được đổi mới; phương pháp nghiên cứu truyền thống còn vẫn chiếm ưu thế, chưa thực sự chuyển hướng mạnh sang phương pháp nghiên cứu hiện đại; việc số hóa dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu phục vụ nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp nghiên cứu mới vẫn có nhiều rào cản; các hệ thống dữ liệu phục vụ nghiên cứu còn phân tán, chưa chuẩn hóa, kỹ năng phân tích chưa đầy đủ.

Các sinh viên đến từ các trường trên địa bàn Thành phố tham quan các các gian hàng công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Các sinh viên đến từ các trường trên địa bàn Thành phố tham quan các các gian hàng công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Áp dụng cơ chế cơ quan nhà nước đặt hàng

Cũng theo ông Hoàng Minh Hiếu, trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật với sự ra đời của rất nhiều công nghệ mới thì nhu cầu phát hiện, lý giải và đề xuất giải pháp cho những vấn đề xã hội, pháp lý, đạo đức và giá trị con người mà công nghệ mới đặt ra là rất cấp thiết.

Ví dụ như chúng ta đang nói nhiều đến trí tuệ nhân tạo, sự ra đời của trí tuệ nhân tạo là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài trong lĩnh vực khoa học máy tính nhưng đi kèm với đó là hàng loạt vấn đề xã hội đặt ra, chẳng hạn như các câu hỏi: Sản phẩm do AI tạo ra thuộc về ai, làm thế nào để hệ thống trí tuệ nhân tạo không tạo ra sự phân biệt đối xử. Việc cho phép hệ thống trí tuệ nhân tạo đưa ra quyết định sinh tử mà không có sự can thiệp của con người sẽ gây ra những vấn đề đạo đức như thế nào hoặc trách nhiệm pháp lý khi để xảy ra rủi ro trong quá trình sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo sẽ thuộc về ai? Người sử dụng AI hay người đã tạo ra thuật toán cho hệ thống AI... Việc giải quyết những vấn đề này chính là nhiệm vụ của khoa học xã hội.

“Tôi đề nghị trong thời gian tới Chính phủ cần nghiên cứu có những giải pháp để đầu tư phát triển ngành khoa học xã hội phù hợp với bối cảnh mới, trong đó tập trung nghiên cứu xây dựng những chương trình phát triển khoa học xã hội nhân văn trọng điểm, trong đó tập trung vào những vấn đề mới gắn với sự phát triển của các công nghệ mới phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội như là các vấn đề pháp lý đối với việc sử dụng các công nghệ mới, nghiên cứu xã hội học số, các vấn đề an ninh phi truyền thống mới xuất hiện...”, ông Hoàng Minh Hiếu đề nghị.

Tiếp đó là đổi mới cơ chế tài chính và đánh giá khoa học xã hội, áp dụng cơ chế các cơ quan nhà nước đặt hàng nghiên cứu khoa học xã hội để phục vụ việc hoạch định các chính sách cụ thể; tiếp tục đổi mới quy trình hoạch định chính sách để tăng cường hàm lượng khoa học trong việc ra quyết định; đa dạng hóa hình thức công bố và ghi nhận giá trị của các nghiên cứu như dưới các dạng báo cáo chính sách hoặc là các báo cáo tư vấn về pháp lý, các dữ liệu xã hội, v.v.. tăng kinh phí cho các đề tài khoa học xã hội có tính ứng dụng thực tế cao mà không chỉ đánh giá dựa trên các số lượng bài báo công bố kết quả nghiên cứu.

Cần có các giải pháp để phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội có chất lượng cao như là tăng đầu tư cho hợp tác sau đại học, hợp tác quốc tế, có các chính sách trọng dụng các nhà khoa học có bản lĩnh, trí tuệ, có nhiều đóng góp cho quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tiếp đó là xây dựng hạ tầng dữ liệu xã hội và hệ sinh thái học thuật cho khoa học xã hội, đưa chuyển đổi số vào phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, từ việc phân tích dữ liệu lớn, mô phỏng xã hội đến việc hệ thống hóa tri thức văn hóa.

Cần tăng cường liên kết giữa khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, ví dụ như vấn đề trí tuệ nhân tạo và pháp luật như chúng tôi đã nêu ở trên hoặc nghiên cứu tác động xã hội, nhu cầu của cộng đồng khi triển khai các đề án chuyển đổi số ở những vùng, địa bàn nhất định. Đây chính là vùng giao thoa, nơi khoa học xã hội cung cấp giá trị và thể chế để bảo đảm cho các công nghệ mới phát triển đúng hướng.

Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ TP Hà Nội khẳng định:"Các đối tác quốc tế đánh giá rằng Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân chính là một "bản tuyên ngôn" về tự do cho sự phát triển của kinh tế tư nhân Việt Nam. Đây chính là "ngọn đuốc" soi đường cho doanh nghiệp tư nhân phát triển. Việc tạo ra được niềm tin cho khối doanh nghiệp này là điều đặc biệt quan trọng. Nghị quyết 68 đã đưa ra những điểm rất chính xác, sát với thực tế đời sống kinh doanh như: Đổi mới sáng tạo, tháo gỡ rào cản về thuế, đất đai, lao động, khoa học công nghệ.
Đây là những vấn đề hết sức chi tiết mà chưa từng có trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị ở nhiều nhiệm kỳ trước đây. Từ đây, Quốc hội và Chính phủ sẽ tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phát triển".

V.T/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/chinh-sach-va-cuoc-song/dot-pha-ve-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-20260113074440362.htm