Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi): Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện thỏa thuận quốc tế
Thảo luận tại Tổ 1 về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), các ĐBQH thành phố Hà Nội đề nghị cần tiếp tục hoàn thiện quy định về phạm vi điều chỉnh, thẩm quyền ký kết và trách nhiệm thực hiện thỏa thuận quốc tế; bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với năng lực thực thi; đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát.
Tránh chồng chéo, xung đột với Luật Điều ước quốc tế
Phát biểu thảo luận, ĐBQH Tạ Đình Thi cơ bản tán thành với Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế. Theo đại biểu, dự án Luật lần này có nhiều điểm mới quan trọng, kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đồng thời, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu thể chế phải đi trước một bước, tháo gỡ các rào cản, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, ứng dụng công nghệ số và dữ liệu số trong quản trị quốc gia. Dự án Luật Thỏa thuận quốc tế có thể cụ thể hóa tinh thần này.

ĐBQH Tạ Đình Thi phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Về tránh chồng chéo, xung đột với Luật Điều ước quốc tế, đại biểu nhấn mạnh đây là yêu cầu có tính nguyên tắc. Dự thảo đã tách bạch khái niệm “thỏa thuận quốc tế” với “điều ước quốc tế” tại khoản 1 Điều 2; đồng thời, quy định tại khoản 3 Điều 3 về việc ký kết thỏa thuận quốc tế không được làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của Việt Nam theo pháp luật quốc tế và không được ký kết về các vấn đề phải thực hiện thông qua điều ước quốc tế. Đại biểu cho rằng đây là quy định chặt chẽ và cần được giữ nguyên.
"Tuy nhiên, thực tiễn đàm phán cho thấy có những văn bản mang tính “hỗn hợp”, trong đó nội dung có thể phát sinh yếu tố điều ước quốc tế trong quá trình đàm phán. Trong khi đó, dự thảo chưa có quy định xử lý đối với trường hợp này. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung cơ chế chuyển hướng: nếu văn bản đang đàm phán phát sinh nội dung phải ký kết dưới hình thức điều ước quốc tế thì phải dừng lại, chuyển sang trình tự, thủ tục của Luật Điều ước quốc tế. Quy định này nhằm bảo đảm không lách luật, không làm phát sinh nghĩa vụ quốc tế của Nhà nước ngoài ý muốn", ĐBQH Tạ Đình Thi nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, về phân cấp, phân quyền, ĐBQH Tạ Đình Thi đánh giá dự thảo đã có bước tiến rõ rệt khi mở rộng chủ thể ký kết thỏa thuận quốc tế, bổ sung UBND xã, phường ở khu vực biên giới, đặc khu và UBND xã, phường khác theo quy định của Chính phủ; đồng thời phân định thẩm quyền quyết định ký kết theo từng cấp, từng loại chủ thể tại các Điều 10 đến Điều 23.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng có hai vấn đề cần làm rõ. Trước hết, việc bổ sung chủ thể UBND cấp xã là chính sách mới so với các nghị quyết của Chính phủ về chính sách xây dựng Luật, nhưng chưa được đánh giá tác động đầy đủ. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung đánh giá tác động, đặc biệt về năng lực và nguồn lực của cấp xã hiện nay; đồng thời, quy định ngay trong Luật các tiêu chí, điều kiện ký kết đối với chủ thể này, cùng cơ chế kiểm tra, giám sát sau khi ký kết để không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia...
Ngoài ra, về phân định thẩm quyền giữa Chủ tịch UBND cấp tỉnh và cấp xã, dự thảo quy định tại khoản 3 Điều 20, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh UBND cấp xã. Tuy nhiên, dự thảo chưa quy định rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã cũng như trách nhiệm giám sát của HĐND cấp xã, trong khi UBND cấp xã là cấp trực tiếp đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, bổ sung quy định về trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã và trách nhiệm giám sát của HĐND cấp xã, bảo đảm gắn thẩm quyền quyết định với trách nhiệm thực hiện, phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý thỏa thuận quốc tế
Liên quan đến công tác ứng dụng chuyển đổi số, ĐBQH Tạ Đình Thi đánh giá dự thảo đã có các quy định về ký điện tử thỏa thuận quốc tế tại Điều 8, cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế tại Điều 44 và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, thực hiện thỏa thuận quốc tế tại khoản 8 Điều 38. Đây là những quy định phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực này.
Theo đó, cần mở rộng phạm vi ký điện tử. Hiện nay, dự thảo loại trừ thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ tại khoản 2 Điều 8. Đại biểu đề nghị cân nhắc quy định lộ trình áp dụng ký điện tử đối với các thỏa thuận này khi hạ tầng và điều kiện bảo mật cho phép.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1 (Hà Nội). Ảnh: Văn Tuyến
Ngoài ra, cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế cần được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về cam kết quốc tế và các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, bảo đảm dữ liệu được khai thác, sử dụng hiệu quả, đúng tinh thần “dữ liệu là tư liệu sản xuất chính” mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm cập nhật, làm sạch dữ liệu và thời hạn cập nhật các thỏa thuận quốc tế đã ký kết.
Ngoài ra, đối với trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại các Điều 30 đến 35, ĐBQH Tạ Đình Thi đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát để bảo đảm các trường hợp áp dụng thực sự rõ ràng, tránh lạm dụng. Đồng thời, cần quy định cụ thể hơn về thời hạn lấy ý kiến, bảo đảm phù hợp với yêu cầu xử lý gấp nhưng vẫn giữ được chất lượng ý kiến tham gia.
Xác định rõ tính chất pháp lý của thỏa thuận quốc tế
Thảo luận về dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), ĐBQH Huỳnh Quyết Thắng nhất trí ban hành Luật Thỏa thuận quốc tế thay thế Luật năm 2020. Theo Bộ Ngoại giao, đến cuối năm 2025, đã có hơn 1.470 thỏa thuận quốc tế do cơ quan trung ương, cấp tỉnh và tổ chức ký kết, cùng gần 900 thỏa thuận do đơn vị trực thuộc ký. Dự thảo sửa đổi 48/52 điều, đáp ứng yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế, nhất là ở địa phương.
Về khoản 1 Điều 2 và Điều 6, đại biểu tán thành tiêu chí phân biệt thỏa thuận quốc tế với điều ước quốc tế là không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của Nhà nước theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, dự thảo chưa phân biệt rõ thỏa thuận quốc tế với hợp đồng có yếu tố nước ngoài, cũng chưa quy định cách xử lý văn bản hỗn hợp hoặc dự thảo phát sinh nội dung có tính chất điều ước quốc tế.
Đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí xác định theo bản chất, mục đích; quy định nguyên tắc tách phần hợp tác trong văn bản hỗn hợp và chuyển sang trình tự của Luật Điều ước quốc tế khi phát sinh nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này. Từ thực tiễn Hà Nội thúc đẩy hợp tác giữa viện, trường, doanh nghiệp và thừa nhận giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh do nước ngoài cấp, đại biểu cho rằng cần phân định rõ thỏa thuận quốc tế với hợp đồng, liên kết giáo dục hoặc ODA. Xác định không rõ sẽ dẫn đến sai thẩm quyền, trình tự, trách nhiệm và khiến cán bộ e ngại ký kết.

ĐBQH Huỳnh Quyết Thắng phát biểu thảo luận. Ảnh: Văn Tuyến
Về Điều 2, Điều 3, Điều 19 và Điều 20, đại biểu ủng hộ trao quyền chủ động hợp tác chuyên môn cho trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu và Ban Quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế. Tuy nhiên, cần quy định rõ điều kiện về chức năng, nhu cầu hợp tác, năng lực, nguồn lực, phạm vi ký kết, trách nhiệm cơ quan chủ quản và cơ chế hậu kiểm.
Tại Hà Nội, một số đơn vị có thể đồng thời thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thỏa thuận quốc tế và thực hiện cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô. Vì vậy, đại biểu đề nghị có bảng đối chiếu và hướng dẫn liên ngành để tránh chồng lấn. Đối với UBND cấp xã ngoài khu vực biên giới, đại biểu cho rằng việc mở rộng thẩm quyền là cần thiết khi xã, phường trực tiếp làm việc với đối tác nước ngoài sau khi bỏ cấp huyện. Tuy nhiên, cán bộ đối ngoại và công chức chuyên môn tại cơ sở còn thiếu, có thể dẫn đến ký kết vượt thẩm quyền hoặc không đủ năng lực thực hiện cam kết.
Đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc, phạm vi và tiêu chí xác định xã, phường được ký kết; thí điểm theo lộ trình tại địa bàn đủ điều kiện như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời bổ sung trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã và cơ chế giám sát của HĐND cấp xã.
Về Điều 5 và các Điều 32 đến 36, đại biểu ủng hộ đơn giản hóa thủ tục nhưng cho rằng hồ sơ tại Điều 33 vẫn gần như đầy đủ như thủ tục thông thường. Đại biểu đề nghị cho phép sử dụng báo cáo tóm tắt nhưng vẫn bảo đảm các tài liệu thiết yếu, gồm dự thảo thỏa thuận, bản dịch tiếng Việt, căn cứ áp dụng thủ tục rút gọn, thẩm quyền, đánh giá tác động và nguồn lực thực hiện.
Đại biểu đề nghị bổ sung trách nhiệm báo cáo, cập nhật cơ sở dữ liệu sau khi sửa đổi kỹ thuật hoặc chấm dứt, tạm đình chỉ khẩn cấp thỏa thuận. Đồng thời, cần bổ sung thẩm quyền giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh tại Điều 5; phân định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi vi phạm và quy định việc bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo theo đúng pháp luật.
Đại biểu lưu ý, Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 nhưng hồ sơ chưa kèm dự thảo văn bản quy định chi tiết. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành văn bản hướng dẫn có hiệu lực đồng thời với Luật. Bên cạnh đó, cần lượng hóa kinh phí cho cơ sở dữ liệu, chữ ký số và đào tạo cán bộ cơ sở; sau một năm thi hành, tổ chức tổng kết, báo cáo Quốc hội để đánh giá hiệu quả thực hiện. Theo đại biểu, xác định đúng tính chất pháp lý, mở rộng chủ thể gắn với năng lực, đơn giản hóa thủ tục đi đôi với kiểm soát và bảo đảm đầy đủ hướng dẫn, nguồn lực sẽ giúp địa phương nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia.

