Dự cảm chiến lược về Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

'Ba ngành công nghệ số và phần mềm dịch vụ; bán dẫn và thiết kế vi mạch; trí tuệ nhân tạo và robot tự động hóa cần được nhìn nhận và nắm bắt như những lời giải công nghệ nền tảng - tức là các công cụ then chốt giúp thâm nhập, tái cấu trúc và nâng cấp toàn bộ các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế, trên cơ sở chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị kiến tạo', GS. Vũ Minh Khương, giảng viên trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.

Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển mới

KTSG: Thưa ông, cách nay khoảng hai năm, khi nhiều ý kiến lo ngại nền kinh tế Việt Nam có thể vướng bẫy thu nhập trung bình, ông lại tự tin rằng Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa một kỷ nguyên có thể cất cánh trở thành quốc gia phát triển. Dự đoán này đã trở thành câu chuyện thời sự của năm 2025 và nhiều năm sắp tới. Ông bình luận như thế nào về điều này? Ông tự tin ở mức nào về khả năng Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045?

- GS. Vũ Minh Khương: Nhận định mà tôi đưa ra từ vài năm trước thực chất dựa nhiều vào dự cảm chiến lược hơn là dự báo theo nghĩa kỹ thuật. Nó được hình thành chủ yếu từ tư duy hệ thống và trải nghiệm thực tiễn tích lũy trong thời gian dài, hơn là từ các phép tính thuần túy dựa trên số liệu hay mô hình định lượng.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã khảo sát rộng rãi người dân và cán bộ ở nhiều nhóm xã hội khác nhau, đề nghị họ đánh giá khả năng Việt Nam đạt mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 theo thang điểm từ 1-5 (trong đó 5 là rất cao; 4 là khá cao; 3 phụ thuộc vào hiệu lực cải cách; 2 là thấp; và 1 là rất thấp). Kết quả cho thấy các đánh giá chủ yếu nằm trong khoảng từ 2-4, với đa số tập trung ở mức 3, và điểm trung bình tổng hợp nhỉnh hơn 3. Điều này phản ánh một tâm thế xã hội vừa kỳ vọng, vừa thận trọng.

Chìa khóa để khai mở động lực phát triển nằm ở việc chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị kiến tạo: từ kiểm soát sang hỗ trợ, từ phòng ngừa rủi ro sang khuyến khích tạo giá trị, và từ “không được sai” sang “dám thử để đi nhanh hơn”. Đây chính là nền tảng để các ngành công nghệ chiến lược của Việt Nam có thể bứt tốc trong thập niên tới.

Sự tự tin của tôi xuất phát từ việc nhận thức rõ rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt lịch sử, với cả cơ hội và thách thức ở quy mô chưa từng có. Đặc biệt, vị thế của Việt Nam trong khu vực, nằm cạnh Trung Quốc, có nhiều nét tương đồng với vị trí của Canada và Mexico bên cạnh Mỹ. Khi Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ vươn lên trở thành một cường quốc sánh ngang với Mỹ trong hai thập niên tới, xét trên phương diện lý trí và lựa chọn chiến lược, Việt Nam không thể chấp nhận một quỹ đạo phát triển mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình như Mexico, mà cần hướng tới con đường của một quốc gia công nghiệp tiên tiến tương tự Canada.

Xét về khả năng thực thi, với tiềm năng, thế năng và động năng mạnh mẽ đã được tích lũy qua gần bốn thập niên đổi mới, cùng những cải cách đột phá và quyết liệt được khởi động trong năm 2025, tôi có niềm tin sâu sắc rằng Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển mới sau Đại hội Đảng lần thứ XIV tổ chức vào hạ tuần tháng 1-2026.

KTSG: Việt Nam khó có thể nhận được sự giúp đỡ cả về nguồn vốn và nhân lực mang tính chất đồng minh từ Mỹ và phương Tây như Singapore, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Nội lực của Việt Nam hiện tại cũng khó vượt trội so với ba quốc gia nêu trên trong giai đoạn nền kinh tế của họ có những bước nhảy vọt. Vậy trong chặng đường phát triển sắp tới, các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa của Việt Nam là gì, theo ông?

- Phải nói rằng tiềm năng, thế năng và động năng cho công cuộc phát triển mà Việt Nam hiện đang sở hữu mạnh hơn so với nhiều quốc gia nêu trên trước thời điểm họ bước vào giai đoạn cất cánh tạo nên những bước tiến mang tính “thần kỳ”. Hơn nữa, trong hai thập niên tới, cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo (AI) với tốc độ tiến bộ vượt bậc sẽ cho phép các quốc gia đi sau như Việt Nam thực hiện những bước nhảy phát triển mà trước đây rất khó đạt được.

Trong phân tích so sánh quốc tế, tương lai phát triển của một quốc gia thường được quyết định bởi năm định tố then chốt: (i) vị trí địa lý - lý tưởng khi nằm trong khu vực hòa bình, ổn định và tiếp giáp với các quốc gia tiên tiến hoặc đang tăng trưởng rất nhanh; (ii) nhân khẩu học - thuận lợi khi có quy mô dân số đủ lớn, cơ cấu dân số còn trẻ, xã hội gắn kết và lực lượng lao động cần cù; (iii) công nghệ - đặc biệt thuận lợi khi xuất hiện các công nghệ nền tảng mới cho phép quốc gia đi sau có thể tham gia ngay vào tuyến đầu của đổi mới và khai thác giá trị; (iv) văn hóa - tích cực khi xã hội có khát vọng vươn lên, tinh thần hợp tác cao và ý chí mạnh mẽ hướng tới một tương lai quốc gia hùng cường; và (v) bộ máy công quyền cùng chiến lược phát triển - hiệu quả khi có một bộ máy tinh gọn, ưu tú, đủ năng lực hoạch định và thực thi chiến lược phát triển theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Đánh giá theo năm định tố này, Việt Nam đang ở mức xuất sắc ở bốn trụ cột đầu, trong khi trụ cột thứ năm - năng lực của bộ máy công quyền và chất lượng thực thi chiến lược - vẫn ở mức trung bình. Do đó, nếu trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, Việt Nam tập trung ưu tiên nâng cấp một cách căn bản trụ cột thứ năm, thì khả năng tạo ra một bước chuyển phát triển mang tính đột phá là hoàn toàn hiện thực.

Con đường đa mục tiêu

KTSG: Việt Nam có thể tăng năng suất lao động nhanh, đồng thời, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nếu tái cấu trúc ngành theo hướng giá trị gia tăng cao, trọng tâm vào 5-7 ngành mũi nhọn. Ông từng nhận định, những nhóm ngành Việt Nam có tiềm năng lớn gồm công nghệ số và phần mềm dịch vụ; bán dẫn và thiết kế vi mạch; AI và robot tự động hóa - những ngành đòi hỏi phải có nền tảng công nghiệp hóa tốt để phát triển. Ông có thể giải thích kỹ hơn về nhận định nêu trên?

- Trước hết cần khẳng định rằng công nghệ số và phần mềm dịch vụ; bán dẫn và thiết kế vi mạch; AI và robot tự động hóa là ba nhóm ngành có ý nghĩa chiến lược đặc biệt đối với Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chỉ coi đây là những “ngành có cơ hội phát triển mở rộng” tương tự các ngành khác thì Việt Nam sẽ rất khó đi xa và khó tạo ra đột phá lớn.

Để thực sự bứt phá, Việt Nam cần nhìn nhận và nắm bắt ba ngành này như những lời giải công nghệ nền tảng - tức là các công cụ then chốt giúp thâm nhập, tái cấu trúc và nâng cấp toàn bộ các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế. Giá trị cốt lõi của chúng không chỉ nằm ở việc tạo thêm tăng trưởng, mà ở khả năng thúc đẩy đồng thời bốn chuyển dịch mang tính cấu trúc: nâng cao trình độ công nghệ; tăng tốc AI - số hóa; thúc đẩy xanh hóa; và nâng cao năng lực tham gia các phân khúc cao của thị trường quốc tế.

Chẳng hạn, trong nông nghiệp, việc ứng dụng AI và robot cho phép tối ưu hóa quy trình canh tác, giảm mạnh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tăng năng suất và chất lượng, đồng thời hạ giá thành sản xuất một cách đáng kể. Nếu triển khai hiệu quả, Việt Nam hoàn toàn có thể nâng giá trị xuất khẩu nông - thủy sản từ khoảng 70 tỉ đô la Mỹ năm 2025 lên xấp xỉ 100 tỉ đô la Mỹ vào năm 2030, trong khi không chỉ đáp ứng tốt các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường và an toàn thực phẩm của các thị trường cao cấp mà còn giảm chi phí giá thành xuất khẩu, đem lại lợi ích ngày càng lớn cho người lao động và nền kinh tế.

Trên cơ sở giải quyết thành công các bài toán lớn của nền kinh tế nội địa bằng AI, robot và bán dẫn - từ nông nghiệp, công nghiệp chế biến, logistics, năng lượng cho tới đô thị và dịch vụ công - Việt Nam có thể từng bước hình thành các giải pháp công nghệ hoàn chỉnh mang dấu ấn riêng. Những giải pháp này không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn có thể được xuất khẩu ra toàn cầu, đặc biệt sang các nền kinh tế đang phát triển có cấu trúc tương đồng.

Đây chính là con đường cho phép Việt Nam vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa nâng cấp chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia. Nếu đi theo hướng này một cách nhất quán, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đưa quy mô nền kinh tế từ khoảng 500 tỉ đô la Mỹ hiện nay lên xấp xỉ 1.800 tỉ đô la Mỹ vào năm 2045, với một nền tảng cạnh tranh vượt trội hơn nhiều so với các mô hình tăng trưởng truyền thống.

Vượt qua “ngưỡng bứt phá”

KTSG: Từ góc độ doanh nghiệp, ông đánh giá như thế nào về mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp nội địa đang hoạt động trong ba ngành này cho bước tiến xa hơn? Nếu doanh nghiệp nội nói chung cần được dìu dắt, nâng đỡ, nhóm doanh nghiệp nào sẽ gánh vác vai trò này - doanh nghiệp lớn của Việt Nam hay doanh nghiệp FDI?

- Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, ở thời điểm hiện nay, đa số doanh nghiệp nội địa Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng để bứt phá lên các phân khúc công nghệ cao của thị trường toàn cầu. Phần lớn doanh nghiệp vẫn đang dừng lại ở các nấc giá trị thấp, như gia công, cung ứng dịch vụ giá rẻ, hoặc ứng dụng công nghệ ở mức sử dụng - chưa làm chủ được công nghệ lõi.

Nguyên nhân không chỉ nằm ở bản thân doanh nghiệp, mà còn ở việc Việt Nam chưa hình thành đầy đủ một chiến lược và chính sách công nghiệp hiện đại, đủ rõ trọng tâm và đủ mạnh về nguồn lực. Đặc biệt, chúng ta vẫn chưa tạo dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự sống động, trong đó các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các viện, trường nghiên cứu và khu vực công được kết nối chặt chẽ trong một cấu trúc hợp tác - bổ trợ lẫn nhau.

Theo kinh nghiệm quốc tế, để vượt qua “ngưỡng bứt phá”, chính phủ cần chủ động thiết lập các nhiệm vụ phát triển mang tính sứ mệnh cho những ngành và nền tảng công nghệ trọng yếu. Các nhiệm vụ này phải đi kèm với quy mô hỗ trợ đủ lớn, khung chính sách ổn định và dài hạn, cùng đội ngũ chỉ huy có tâm huyết, am hiểu sâu xu thế toàn cầu và tiến bộ công nghệ, coi thành công của doanh nghiệp và nền kinh tế là mục tiêu thôi thúc tối thượng.

Singapore năm 2025 tăng trưởng vượt xa kỳ vọng nhờ nền kinh tế tích hợp chặt chẽ với AI, số hóa, và bán dẫn. Đầu tư vào ứng dụng AI và số hóa có hiệu quả cao hơn nhiều so với đầu tư vào bất động sản.

Trong nỗ lực này, chúng ta có thể tham khảo một số bài học của Singapore. Thứ nhất, có chiến lược AI và quốc gia thông minh được nâng cấp (thế hệ 2.0) cho phù hợp với những tiến bộ mới nhất của cuộc cách mạng số. Thứ hai, tận dụng các tập đoàn đa quốc gia như Google, Amazon, Meta xây dựng hệ sinh thái số và năng lực AI giúp doanh nghiệp trong tất cả các ngành cùng nắm bắt nhanh tiến bộ công nghệ. Thứ ba, thiết lập các nền tảng (platform) kết nối cung - cầu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số với sự hỗ trợ chủ động, hào hiệp, và hiệu quả của cơ quan chính phủ.

KTSG: Động lực chính, có tác động kích hoạt sự phát triển chung của nhóm ngành công nghệ số và phần mềm dịch vụ; bán dẫn và thiết kế vi mạch; AI và robot tự động hóa đang nằm ở phía doanh nghiệp hay ở khía cạnh quản lý? Và làm sao để có thể khai mở động lực này, thưa ông?

- Để tạo ra sự phát triển bứt phá cho các ngành công nghệ số và phần mềm dịch vụ; bán dẫn và thiết kế vi mạch; AI và robot tự động hóa, tôi cho rằng động lực quyết định không nằm thuần túy ở phía doanh nghiệp hay ở phía quản lý nhà nước, mà nằm ở chất lượng quản trị phát triển.

Quản trị ở đây không đồng nghĩa với quản lý theo nghĩa hành chính, mà là năng lực hỗ trợ, kích hoạt và khuếch đại các nỗ lực tạo giá trị mới của mọi chủ thể trong nền kinh tế - từ doanh nghiệp, viện, trường, startup cho tới khu vực công. Nếu chúng ta thiên lệch về “quản lý”, tức là tập trung quá nhiều vào soạn thảo luật, quy định và kiểm tra tuân thủ, thì hệ quả thường thấy là nguồn lực bị tiêu hao vào việc tránh rủi ro và sợ vi phạm, thay vì được giải phóng để thúc đẩy đổi mới và dấn thân. Khi đó, nỗi sợ sai dễ lấn át khát vọng vươn lên của doanh nghiệp và toàn xã hội.

Với AI, robot và bán dẫn, lợi thế của Việt Nam thậm chí còn rõ ràng hơn, bởi người Việt không bị hạn chế về thể lực, mà chủ yếu phụ thuộc vào trí tuệ, tổ chức và môi trường thể chế. Nếu được “yểm trợ” đúng cách - tức là được tạo không gian thử nghiệm, được chấp nhận rủi ro có kiểm soát, được khích lệ vượt chuẩn mực cũ - thì các doanh nghiệp và đội ngũ kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra những bước tiến vượt bậc trong thời gian tương đối ngắn.

Do đó, chìa khóa để khai mở động lực phát triển nằm ở việc chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị kiến tạo: từ kiểm soát sang hỗ trợ, từ phòng ngừa rủi ro sang khuyến khích tạo giá trị, và từ “không được sai” sang “dám thử để đi nhanh hơn”. Đây chính là nền tảng để các ngành công nghệ chiến lược của Việt Nam có thể bứt tốc trong thập niên tới.

Hoàng Hạnh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/du-cam-chien-luoc-ve-viet-nam-trong-ky-nguyen-vuon-minh/