Du lịch Việt Nam: Tái cấu trúc thị trường, nâng cao giá trị điểm đến

Xung đột tại Trung Đông đang tác động trực tiếp đến ngành hàng không và du lịch toàn cầu. Trong bối cảnh đó, du lịch Việt Nam đứng trước áp lực nhưng cũng mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường và nâng cao giá trị điểm đến. Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Hồ An Phong (ảnh) chia sẻ với phóng viên Báo SGGP về kịch bản ứng phó và chiến lược dài hạn của ngành.

PHÓNG VIÊN: Xung đột tại Trung Đông đang làm gián đoạn hàng không, đẩy chi phí du lịch tăng cao. Bộ VH-TT-DL đánh giá tác động đến du lịch Việt Nam hiện nay ra sao, thưa ông?

Thứ trưởng HỒ AN PHONG: Trung Đông là mắt xích trung chuyển quan trọng của mạng bay toàn cầu, đặc biệt trên các tuyến kết nối châu Á với châu Âu, Bắc Mỹ và một phần châu Phi. Nhóm thị trường chịu tác động trực tiếp (mức độ 1) là khu vực Trung Đông, hiện chiếm 0,24% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Nhóm thị trường chịu tác động gián tiếp (mức độ 2) gồm châu Âu (chiếm 13%) và châu Mỹ (chiếm 5,2%) do ảnh hưởng đến tuyến đường bay và chi phí tour tăng. Nhóm thị trường chịu tác động gián tiếp (mức độ 3) do chi phí gia tăng và tâm lý e ngại du lịch bao gồm khu vực Bắc Á, chiếm gần 55% tổng lượng khách (trong đó có Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản); khu vực Đông Nam Á chiếm khoảng 20%. Cùng với đó, thị trường Ấn Độ chiếm 3,5% và châu Úc chiếm 3,2%.

Việc gián đoạn các tuyến bay trung chuyển qua Trung Đông đang ảnh hưởng trực tiếp đến lịch trình di chuyển của một số đoàn khách quốc tế đến Việt Nam, đặc biệt từ châu Âu và Bắc Mỹ - các thị trường phụ thuộc lớn vào các điểm trung chuyển như Doha, Dubai, Abu Dhabi. Xung đột làm kéo dài thời gian bay, tăng chi phí vận chuyển và rủi ro hủy, hoãn chuyến, tác động đến lượng khách quốc tế trong tháng 3 và mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế của năm nay.

Để ứng phó, Bộ VH-TT-DL đã chỉ đạo ngành du lịch chủ động theo dõi, đánh giá, dự báo để kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ có giải pháp ứng phó nhanh, hiệu quả với các rủi ro, nhất là khi nguồn cung năng lượng giảm, giá cả tăng cao; tiến hành rà soát, xây dựng kịch bản dự phòng cho các tuyến vận tải, chuỗi cung ứng hàng hóa và nhiên liệu bị ảnh hưởng; khuyến khích ngành du lịch giảm phụ thuộc vào các khu vực bị ảnh hưởng, đẩy mạnh thu hút khách từ các thị trường trọng điểm khác (ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản)... Cùng với đó, bộ xác định đây cũng là cơ hội để tiếp tục cơ cấu lại phân khúc khách, ưu tiên khách có khả năng chi trả cao, lưu trú dài ngày, ít nhạy cảm với chi phí, như nghỉ dưỡng biển cao cấp, MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo) hay du lịch tàu biển.

Du lịch Việt Nam cần thay đổi gì về chiến lược để không rơi vào thế bị động mỗi khi có biến động?

Du lịch Việt Nam cần chuyển từ tư duy ứng phó sang chiến lược chủ động, linh hoạt và bền vững. Cụ thể như đa dạng hóa thị trường khách, giảm phụ thuộc vào một số thị trường xa hoặc nhạy cảm với biến động (châu Âu, Bắc Mỹ), tăng cường khai thác thị trường gần, thị trường khu vực (Đông Bắc Á, ASEAN, Ấn Độ, Trung Đông) và thị trường nội địa nhằm phân tán rủi ro. Bên cạnh đó là tái cấu trúc sản phẩm du lịch theo hướng linh hoạt, phát triển các sản phẩm ngắn ngày, chi phí hợp lý, dễ điều chỉnh (du lịch nội vùng, du lịch chăm sóc sức khỏe…), phù hợp với bối cảnh biến động và thay đổi hành vi tiêu dùng.

Cùng với đó là nâng cao năng lực dự báo và xây dựng kịch bản ứng phó; xây dựng các kịch bản ứng phó theo cấp độ (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) gắn với từng loại hình rủi ro; tăng cường tính tự chủ của hệ thống vận hành du lịch thông qua phát triển mạng lưới kết nối hàng không trực tiếp, giảm phụ thuộc vào các điểm trung chuyển; củng cố chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch trong nước để hạn chế tác động lan truyền từ bên ngoài...

 Ngắm phố Hà Nội bằng xích lô là một trong những loại hình được du khách quốc tế yêu thích lựa chọn khi đến thủ đô

Ngắm phố Hà Nội bằng xích lô là một trong những loại hình được du khách quốc tế yêu thích lựa chọn khi đến thủ đô

Giá vé máy bay và giá tour tăng đang ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của du khách. Cơ quan quản lý có giải pháp gì để “hạ nhiệt” chi phí và giữ sức cạnh tranh của điểm đến, thưa ông?

Trước thực tế giá vé máy bay và giá tour có xu hướng tăng do tác động từ chi phí nhiên liệu và vận chuyển toàn cầu, chúng tôi xác định không thể xử lý theo hướng “ép giá xuống” một cách đơn thuần, mà tập trung vào giảm áp lực chi phí đồng thời nâng cao giá trị trải nghiệm cho du khách.

Bộ đã phối hợp với các cơ quan liên quan và doanh nghiệp du lịch triển khai nhiều giải pháp như tăng cường liên kết chuỗi giữa hàng không, lữ hành, lưu trú và điểm đến để hình thành các gói sản phẩm tối ưu; đa dạng hóa sản phẩm với các dòng chi phí phù hợp như du lịch xanh, du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm; đẩy mạnh chuyển đổi số để giảm chi phí trung gian, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng tiếp cận trực tiếp khách hàng; tăng cường công tác quản lý nhà nước về giá…

Về lâu dài, giải pháp trọng tâm là cơ cấu lại thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến bằng chất lượng thay vì chỉ dựa vào giá. Và, tôi xin nhấn mạnh lại, ngành du lịch cần tập trung vào các phân khúc khách có khả năng chi trả cao, lưu trú dài ngày và ít nhạy cảm với biến động chi phí như nghỉ dưỡng cao cấp, MICE, golf, chăm sóc sức khỏe hay trải nghiệm văn hóa chuyên sâu; đẩy mạnh xúc tiến theo hướng linh hoạt, sát nhu cầu thị trường, tăng cường phối hợp công - tư, phát triển sản phẩm khác biệt, nâng cao chất lượng dịch vụ và hoàn thiện hệ sinh thái du lịch thông minh… Cách tiếp cận này không chỉ giúp “hạ nhiệt” chi phí theo hướng bền vững mà còn giữ vững sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong bối cảnh biến động hiện nay.

Trong khi nhiều điểm đến trên thế giới bị ảnh hưởng bởi bất ổn, Việt Nam được xem là “điểm đến an toàn”. Nhưng, làm thế nào để biến lợi thế này thành lượng khách và doanh thu thực chất?

Nếu như trước đây, du khách thường ưu tiên các tiêu chí như chi phí, trải nghiệm hay sự thuận tiện trong thủ tục, thì nay, câu hỏi “đi đâu để an tâm hơn” đã trở thành một cân nhắc mang tính quyết định. Đây chính là thời điểm thuận lợi để Việt Nam củng cố và khẳng định hình ảnh một điểm đến an toàn, thân thiện, ổn định, có năng lực phục vụ du khách ngày càng chuyên nghiệp, văn minh, hiện đại. Vấn đề đặt ra là phải có sản phẩm đúng, xúc tiến trúng và trải nghiệm đủ tốt.

 Du khách tham gia trải nghiệm làm nông dân tại một khu nghỉ dưỡng trên bán đảo Cam Ranh (Khánh Hòa)

Du khách tham gia trải nghiệm làm nông dân tại một khu nghỉ dưỡng trên bán đảo Cam Ranh (Khánh Hòa)

Từ quan điểm đó, chúng tôi đang chỉ đạo triển khai một số giải pháp trọng tâm như: thay đổi cách thức và phương pháp tổ chức truyền thông, không chỉ dừng ở thông điệp “an toàn, thân thiện” mà phải gắn với các sản phẩm rõ ràng như nghỉ dưỡng biển, văn hóa - di sản - ẩm thực, MICE, golf, chăm sóc sức khỏe hay du lịch cộng đồng... giúp du khách hình dung rõ trải nghiệm và lý do lựa chọn Việt Nam.

Lợi thế an toàn chỉ chuyển hóa thành doanh thu khi trải nghiệm tại điểm đến tương xứng với kỳ vọng. Do vậy, việc nâng chuẩn toàn bộ hệ sinh thái điểm đến là vấn đề có tính chất căn cốt từ sản phẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn nhân lực, liên kết vùng cho đến ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi xanh. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà còn là yêu cầu thương mại rất cụ thể: giữ khách ở lại lâu hơn, trở lại nhiều hơn và chi tiêu nhiều hơn. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, cần nâng tầm hình ảnh Việt Nam từ “điểm đến an toàn” lên “điểm đến ổn định, đáng tin cậy và có khả năng thích ứng”. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng khi nhiều khu vực bất ổn, giúp Việt Nam không chỉ là nơi “an toàn để đến” mà còn là nơi “đáng để ở lại, đáng để chi tiêu và quay lại”.

Trong 3-5 năm tới, du lịch Việt Nam đặt mục tiêu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo hướng xanh, bền vững, giá trị cao. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đón khoảng 35 triệu lượt khách quốc tế (tăng 13%-15%/năm) và 160 triệu lượt khách nội địa (tăng 4%-5%/năm), đóng góp 13%-14% GDP, tạo khoảng 10,5 triệu việc làm.

VĨNH XUÂN thực hiện

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/du-lich-viet-nam-tai-cau-truc-thi-truong-nang-cao-gia-tri-diem-den-post846219.html