Du lịch Việt Nam trong cuộc đua giá trị: Lấy chất lượng trải nghiệm làm sức cạnh tranh
Tỷ lệ du khách quốc tế quay trở lại Việt Nam ở mức cao theo dữ liệu đặt phòng của Agoda đang mở ra cơ hội nâng chất lượng và giá trị du lịch.

Du khách tham quan Hà Nội vào dịp lễ Quốc khánh 2-9 vừa qua. Ảnh: THU HÀ
Tỷ lệ du khách quốc tế quay trở lại Việt Nam ở mức cao theo dữ liệu đặt phòng của Agoda đang mở ra cơ hội nâng chất lượng và giá trị du lịch. Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh khẳng định, toàn ngành đang chuyển mạnh từ phát triển theo số lượng sang chất lượng, chiều sâu và quản trị thông minh.

Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam Nguyễn Trùng Khánh
Tăng giá trị từ mỗi du khách
* PHÓNG VIÊN: Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu phát triển theo chiều sâu. Theo ông, đâu là những hướng đột phá để nâng cao chất lượng dịch vụ, kéo dài thời gian lưu trú và tăng giá trị từ mỗi du khách?
- Ông NGUYỄN TRÙNG KHÁNH: Nghị quyết 26-NQ/TW đã xác định hướng đi của ngành là chuyển mạnh từ phát triển theo số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh và sáng tạo; trong đó văn hóa là nền tảng, bản sắc và chất lượng trải nghiệm là lợi thế cạnh tranh. Mục tiêu đến năm 2030 là đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, tổng thu 80-90 tỷ USD, ưu tiên thị trường có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Vì vậy, thước đo tăng trưởng không thể chỉ là số lượt khách, mà còn phải tính đến giá trị mỗi du khách tạo ra.
Muốn vậy, trước hết phải phát huy lợi thế của Việt Nam về văn hóa, di sản, cảnh quan và ẩm thực, lấy chất lượng trải nghiệm làm sức cạnh tranh. Cùng với đó là phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, khen thưởng), du lịch chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng biển đảo, du lịch thể thao và các sản phẩm gắn với công nghiệp văn hóa. Một hướng khác là mở rộng không gian chi tiêu của du khách thông qua du lịch mua sắm, kinh tế đêm, các sản phẩm ven sông, ven biển và những tổ hợp du lịch, giải trí, văn hóa, thể thao. Hiện chi tiêu của khách vẫn tập trung nhiều vào lưu trú và ăn uống, trong khi dư địa ở vui chơi, giải trí và trải nghiệm còn rất lớn. Đây là khoảng trống ngành du lịch cần tập trung khai thác.
* Theo dữ liệu đặt phòng 6 tháng đầu năm 2026 của Agoda, Việt Nam đứng thứ 3 châu Á về tỷ lệ khách quay trở lại. Kết quả này có ý nghĩa như thế nào với ngành du lịch, thưa ông?
- Việt Nam đứng thứ 3 châu Á về tỷ lệ khách quay trở lại, sau Nhật Bản và Thái Lan. Đà Nẵng, TPHCM, Nha Trang, Hà Nội và Phú Quốc là những điểm đến có tỷ lệ khách quay lại cao trong nước. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy sức hấp dẫn của Việt Nam không chỉ ở khả năng thu hút khách lần đầu mà còn ở khả năng tạo nhu cầu trở lại.
Việt Nam có dư địa rất lớn để mỗi lần du khách quay lại là một trải nghiệm mới. Với hệ thống di sản, văn hóa, cảnh quan và hàng ngàn lễ hội, chúng ta có nhiều điều kiện để liên tục làm mới sản phẩm. Tuy nhiên, tỷ lệ khách quay lại mới phản ánh một phần sức hấp dẫn của điểm đến. Điều quan trọng hơn là mỗi lần trở lại, du khách có thêm trải nghiệm, lưu trú lâu hơn và tạo ra giá trị kinh tế cao hơn.
Du lịch Việt Nam lên kịch bản tăng trưởng 2 con số
Bộ VH-TT-DL vừa ban hành Quyết định số 2338/QĐ-BVHTTDL về Kịch bản phát triển ngành du lịch gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Theo kịch bản, năm 2026, ngành du lịch đặt mục tiêu đón 25-27 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150-153 triệu lượt khách nội địa; tổng thu dự kiến khoảng 1,1-1,2 triệu tỷ đồng. Bộ VH-TT-DL giao nhiệm vụ tăng trưởng khách quốc tế cho 11 địa phương trọng điểm. TPHCM được giao chỉ tiêu cao nhất, với mục tiêu đón 11,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 33,7%; Hà Nội 10 triệu lượt, tăng 27,8%; Đà Nẵng 9 triệu lượt…
Chuyển hóa lợi thế
* Để xu hướng khách quay trở lại được chuyển hóa thành giá trị kinh tế thực chất, toàn ngành cần tập trung vào những nhóm giải pháp căn cơ nào?
- Khách quay lại là điều kiện thuận lợi, nhưng quan trọng là phải chuyển hóa lợi thế đó thành giá trị kinh tế. Trước hết, cần làm mới trải nghiệm tại những điểm đến vốn đã quen thuộc, để mỗi lần trở lại không lặp lại hành trình cũ. Cùng với đó là phát triển du lịch cộng đồng gắn với làng nghề, di sản và bản sắc văn hóa địa phương. Chúng ta cũng phải liên kết tốt hơn các mắt xích trong chuỗi du lịch, từ lữ hành, vận chuyển, lưu trú đến dịch vụ và sản phẩm địa phương. Khi chuỗi được kết nối tốt, thời gian lưu trú có thể kéo dài, du khách có thêm cơ hội trải nghiệm và chi tiêu, qua đó tạo giá trị cao hơn cho điểm đến. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu chính sách phù hợp để khuyến khích du khách ở lại lâu hơn, trong đó có nhóm khách làm việc từ xa, thông qua những cơ chế thí điểm có kiểm soát.

* Ứng dụng cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia được kỳ vọng sẽ giúp công tác xúc tiến chuyển từ quảng bá dàn trải sang tiếp thị trúng đích. Ngành du lịch sẽ khai thác dữ liệu như thế nào để hiểu rõ hơn nhu cầu, hành vi của các thị trường khách trọng điểm?
- Chúng tôi xác định phải chuyển từ quảng bá dàn trải sang tiếp thị trúng đích, dựa trên dữ liệu và đặc điểm từng thị trường.
Cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia sẽ từng bước bổ sung thông tin về nhu cầu, lựa chọn dịch vụ, mức chi tiêu, thời gian lưu trú và mối quan tâm của du khách. Trên cơ sở đó, ngành có thể lựa chọn nội dung, ngôn ngữ, hình thức truyền thông và kênh tiếp cận sát hơn với từng nhóm khách.
Một hướng quan trọng khác là xây dựng kho dữ liệu nội dung du lịch quốc gia đa ngôn ngữ, cung cấp hình ảnh, video và thông tin điểm đến chính thống; ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để theo dõi xu hướng, phản hồi của du khách, đánh giá hiệu quả từng chiến dịch. Mục tiêu là lựa chọn đúng thị trường, đúng đối tượng và điều chỉnh nhanh khi nhu cầu thay đổi.

Du khách tham quan khu vực trung tâm TPHCM. Ảnh: HOÀNG TRIỀU
* Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng được xác định là 3 cực tăng trưởng du lịch. Theo ông, cần làm gì để các trung tâm này thực sự trở thành đầu tàu, kéo theo sự phát triển của các vùng phụ cận?
- Ba thành phố này đã là những cửa ngõ đón và phân phối khách lớn. Vấn đề đặt ra là phải phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt phát triển vùng. Muốn vậy, trước hết phải tăng cường kết nối liên vùng, từ giao thông đến sản phẩm và dịch vụ, nhất là giao thông đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế đến những vùng động lực du lịch.
Về sản phẩm, từng địa phương cần định hình lợi thế riêng để tránh trùng lặp. Mỗi cực tăng trưởng cần hình thành chuỗi liên kết chặt chẽ với các địa phương phụ cận, tạo điều kiện để du khách dễ dàng mở rộng hành trình, còn các địa phương trong vùng có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch. Khi đó, vai trò lan tỏa của các trung tâm lớn sẽ rõ nét hơn, đồng thời tạo ra những sản phẩm có bản sắc và sức cạnh tranh riêng.
