Dữ liệu quyết định đơn hàng ngành gỗ

Lợi thế mới của ngành gỗ không còn nằm ở công suất mà ở dữ liệu. Truy xuất nguồn gốc đang quyết định cơ hội nhận đơn hàng.

Một chiếc bàn gỗ hôm nay không chỉ được đánh giá bằng thiết kế hay chất lượng hoàn thiện. Nhà nhập khẩu muốn biết cây gỗ được trồng ở đâu, có liên quan đến mất rừng hay không, ai khai thác, ai vận chuyển và toàn bộ hành trình đó có thể kiểm chứng hay không.

Thương mại gỗ đang chuyển từ kiểm tra sản phẩm sang kiểm tra bằng chứng. Trong nhiều năm, doanh nghiệp cạnh tranh bằng giá thành, công suất và tốc độ giao hàng. Những lợi thế đó đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới.

Nhưng cuộc chơi đã đổi khác. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ và các tiêu chuẩn phát triển bền vững đều yêu cầu doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc hợp pháp và hành trình của nguyên liệu. Dữ liệu vì thế trở thành một lợi thế cạnh tranh.

Nếu trước đây doanh nghiệp đầu tư vào rừng trồng, máy móc và nhà xưởng thì nay phải đầu tư thêm vào hệ thống truy xuất, cơ sở dữ liệu và chứng chỉ. Tọa độ GPS, hồ sơ khai thác, chứng chỉ quản lý rừng hay dữ liệu phát thải không tạo ra sản phẩm, nhưng quyết định sản phẩm đó có được bước vào thị trường hay không.

Khác biệt giữa sản xuất được và bán được

Việt Nam đã bắt đầu đầu tư vào hạ tầng của cuộc cạnh tranh mới. Ngành lâm nghiệp đang xây dựng Hệ thống thông tin truy xuất gỗ (TTIS), tích hợp mã số rừng trồng, bảng kê lâm sản điện tử, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và giấy phép FLEGT.

Đến năm 2030, mục tiêu là có 1 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, đồng thời mở rộng mã số rừng trồng tới 15-20 địa phương trọng điểm.

Theo Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Văn Diện, tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là yếu tố sống còn để duy trì niềm tin của thị trường quốc tế.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa từ khai thác rừng đến sản phẩm hoàn chỉnh được xem là nền tảng để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành gỗ. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế vẫn còn lớn.

 "Năng lực cạnh tranh của ngành gỗ hiện nay không chỉ được quyết định bởi năng lực sản xuất mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng", ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm. Ảnh: Nguyễn Vân

"Năng lực cạnh tranh của ngành gỗ hiện nay không chỉ được quyết định bởi năng lực sản xuất mà còn phụ thuộc vào khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng", ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm. Ảnh: Nguyễn Vân

Việt Nam hiện có gần 15 triệu ha rừng, nhưng mới khoảng 868.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Trong số 920 chủ rừng là tổ chức, mới có 446 đơn vị hoàn thành phương án quản lý rừng bền vững; riêng nhóm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế chỉ đạt 34,5%.

Chi phí cũng là một rào cản

Theo Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (VFCO), chi phí lập phương án và chứng nhận rừng hiện dao động từ 50-200 triệu đồng cho mỗi phương án, vượt khả năng của nhiều chủ rừng nhỏ.

Một điểm nghẽn khác nằm ở hệ thống truy xuất. Đến nay, Việt Nam mới thí điểm cấp mã số rừng trồng trên khoảng 25.500 ha tại 5 tỉnh phía Bắc, rất nhỏ so với gần 4,9 triệu ha rừng trồng sản xuất.

Trong khi đó, EUDR yêu cầu truy xuất từng lô rừng bằng tọa độ GPS. Dữ liệu phân tán, nhiều chủ rừng nhỏ thiếu thiết bị và kỹ năng số. Theo TS Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends, yêu cầu này không chỉ tác động đến xuất khẩu sang châu Âu mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thương mại gỗ trong ASEAN.

EUDR yêu cầu Truy xuất từng lô rừng bằng tọa độ GPS, yêu cầu này không chỉ tác động đến xuất khẩu sang châu Âu mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thương mại gỗ trong ASEAN. Ảnh: Misa

EUDR yêu cầu Truy xuất từng lô rừng bằng tọa độ GPS, yêu cầu này không chỉ tác động đến xuất khẩu sang châu Âu mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thương mại gỗ trong ASEAN. Ảnh: Misa

Việt Nam đã thực hiện VPA/FLEGT, chuẩn bị triển khai EUDR và áp dụng các yêu cầu về gỗ hợp pháp của Hoa Kỳ. Điều đó đồng nghĩa với việc cả nguyên liệu nhập khẩu từ ASEAN cũng sẽ phải đáp ứng yêu cầu truy xuất nếu tham gia chuỗi xuất khẩu tới các thị trường tiêu chuẩn cao.

Sự thay đổi này cũng lý giải vì sao hợp tác của ngành gỗ ASEAN đang chuyển trọng tâm sang xây dựng nền tảng dữ liệu chung và chuẩn hóa truy xuất nguồn gốc. Nếu trước đây các quốc gia kết nối bằng dòng hàng hóa thì nay họ bắt đầu kết nối bằng dữ liệu.

Trong nhiều năm, doanh nghiệp đầu tư để mở rộng nhà máy và tăng công suất, nhưng chu kỳ cạnh tranh mới đòi hỏi một khoản đầu tư khác. Khi thị trường yêu cầu bằng chứng thay vì lời cam kết, dữ liệu không còn là hồ sơ đi kèm sản phẩm, mà trở thành điều kiện để sản phẩm bước vào thị trường.

Nguyễn Vân

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/du-lieu-quyet-dinh-don-hang-nganh-go-115140.html