Dư vị sông Cầu
Giữa núi rừng Phja Khao, Phja Bjoóc của Thái Nguyên rộng lớn, đôi khi tôi bước theo tiếng gió, tiếng suối và những lối mòn. Có lẽ, điều đẹp nhất không phải là biết điểm đến, mà là tận hưởng hành trình và những điều bất ngờ mà rừng xanh mang lại. Từ nơi bắt đầu này, con sông Cầu đã dẫn tôi theo câu lượn, lời then và dư vị của mùa thu Việt Bắc.
"Mùa Thu em xin hát. Mùa Thu em lượn ca. Ca bài ca Cách mạng. Hát bài hát ơn Đảng, Bác Hồ". Tiếng hát trong trẻo của cố Nghệ nhân Ưu tú Bích Thu vẫn vang lên trong radio trên nhà sàn ở ven đường tôi đi qua bản.
Sông Cầu đã đưa lời ca ấy bay xa hơn, bởi con sông đã chứng kiến những năm tháng gian khổ mà cha ông ta đã "cháo bẹ, rau măng" chở che cán bộ cách mạng. Bè mảng xuôi ngược trong màn sương mù đặc quánh, âm thầm trở thành phương tiện liên lạc bí mật từ chiến khu Việt Bắc với các căn cứ dưới đồng bằng.
Chợ Đồn, Khuổi Lót, Khuổi Cườm, Bến Oánh, Bến Tượng,... còn kể mãi câu chuyện kiêu hùng, hòa cả máu và nước mắt của cha ông ta để có mùa thu lịch sử. Mùa thu năm 1945, tiếng súng giải phóng Định Hóa vang lên, đoàn quân cách mạng tiến xuống cùng nhân dân giải phóng hoàn toàn thị xã Thái Nguyên, rồi tiếp tục tiến về Hà Nội.
Hai năm, sau ngày độc lập, quân và dân Thái Nguyên đã kiên cường chiến đấu ở mặt trận sông Cầu và dọc Quốc lộ 3, góp phần đập tan chiến dịch quy mô lớn của thực dân Pháp (Chiến dịch Thu - Đông năm 1947), bảo vệ Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Minh họa: Đ.T
Lời hẹn thề mùa thu năm 1954 sau chín năm chia ngọt sẻ bùi khiến tất cả ai nấy đều bịn rịn. Các ngả đường, bến đò, cầu phao bắc qua sông Cầu ở Thái Nguyên, bà con đều đặn đưa các đoàn cán bộ, xe cộ, tài liệu mật từ An toàn khu xuống vùng đồng bằng.
Sông Cầu còn chứng kiến cuộc trao trả tù binh giữa ta và Pháp. Các chiến sĩ cách mạng được trở về với quê hương, với đồng đội, với người thân, đón dư vị một mùa thu mới: Mùa thu hòa bình trên quê hương Việt Bắc…
Dòng sông Cầu vào thu không còn phải hứng từng cơn mưa rừng trắng trời, sạt đất. Trận lũ quét dồn dập, nước đỏ ngầu, dâng cao, cuốn phăng biết bao của cải tích cóp nửa đời người đã ở lại cùng mùa hè dữ dội. Sông Cầu lặng lẽ chăm chút từng thửa ruộng bậc thang, đong đếm thiệt hơn để đón mùa màng bội thu nhuộm sắc vàng no đủ. Mặt nước vì thế phả một làn sương mỏng, lăn tăn sóng, trong veo soi bóng mây trời.
Tôi mê mải với bản làng nép mình yên ả bên dòng sông. Đất đai trù phú được dòng sông bồi đắp phù sa, qua bàn tay người nông dân chăm chỉ, ruộng mía, bãi dâu, khóm chuối tươi tốt, lớn đều. Nhiều loại cây ở Thái Nguyên cho quả vào mùa thu như hạt dẻ, na, ổi rừng, trám đen, trám trắng,...
Quả trám đen chín rụng xuống chiều, thơm bàn tay người đi rừng lượm nhặt. Các bà rửa sạch quả trám đen, để ráo cho vào nồi ỏm đến khi nước nóng già, bắc nồi ra để nguội sẽ bùi ngậy. Thức quả được người Thái Nguyên chế biến thành xôi trám, nham trám Hà Châu, trám om cá chép sông Cầu.
Những cây hồng không hạt cũng mang dư vị của sương đêm bốc lên từ dòng sông này. Quả hồng giòn và ngọt hơn khi được ngâm đủ độ. Na ở Thái Nguyên đậm vị, không chỉ vùng La Hiên, ngay Linh Sơn cũng có những vườn na sai quả. Na chín ngọt bến sông.
Na từ tay người trồng trở thành hàng hóa đưa vào phố. Mỗi mùa quả là một mùa nhớ. Nhiều người hỏi tôi: Na ở đâu mà có vị ngọt và ít hạt như vậy? Tôi nói giống na Thái trồng ở xứ Thái. Vị gió ngàn còn nuôi dưỡng thành hạt gạo nếp Vải, Khẩu Nua Lếch hay nếp Thầu Dầu mẩy đều, thơm dẻo. Nếp non giã thành mùa cốm háo hức của trẻ thơ, mùa gợi nhớ ngày xửa ngày xưa của người già.
Cốm chia cho từng nhà, gói làm quà cho khách đường xa. Khi hạt thóc gặt về trải vàng sân nhà, người ta lại ngược sông Cầu đặt làm tương nếp, làm cơm lam, bánh coóc mò,... làm bánh phở, bánh cuốn tráng từ bột gạo Đoàn Kết, gạo Bao Thai. Nhà nào cũng đủ ăn, đủ mặc, được mùa thóc- lúa- ngô- khoai nào nỡ phụ sông Cầu.
Như ký ức của mỗi người, dòng sông quê vơi đầy nhưng không bao giờ cạn. Tôi cảm nhận được vị sông qua vị chát ngọt hậu của chén trà chiều. Cùng với dòng sông Công, sông Cầu tặng cho người dân xứ Thái một thứ men say chắt lọc qua mưa, qua nắng, qua sương, qua lửa và rồi qua thời gian đợi chờ mới nâng niu trên tay thưởng thức.
Trà Thái Nguyên nức tiếng xa gần. Trà Thái có nhiều loại phù hợp với sở thích của người sành trà. Trà mộc mạc như lòng người, thanh cao như thơ, đắm đuối như dáng hình thiếu nữ, trải nhiều cung bậc như sông…
Sông Cầu nuôi dưỡng sự sống của những vạt chè, trở thành tác phẩm nghệ thuật của những người yêu quê hương luôn khát khao sáng tạo.

Một khúc sông Cầu mùa lau, sậy.
Từ những mạch nước trong vắt triệu năm gom lại thành dòng, sông Cầu dẫn tôi đi chưa hết đất Thái Nguyên đã gặp câu quan họ. Mấy khi đợi hát ở hội làng, người mê quan họ gặp bạn bè, cất lời “Mời nước, mời trầu”, “Gửi về Quan họ”, “Mười nhớ” da diết xóm phố.
“Này người ơi, người ở đừng về… sông Cầu đêm nay lấp lánh câu thề”, “Trông trăng” “Ngồi tựa mạn thuyền”. Ít người biết Thái Nguyên từ lâu đã có phường Quan họ ở làng quê tiếp giáp tỉnh Bắc Ninh. Câu ca gắn với vùng sông nước, ruộng đồng, bay lên vừa tri thức, vừa lãng mạn và neo vào lòng người nỗi nhớ mênh mang...
Tôi bước vào mùa Thu từ trang sách sử, từ những chuyến đi dọc bờ sông Cầu, từ câu chuyện bên bếp lửa của người già và dư vị của khoảng lặng ven sông đủ để độc thoại với chính mình.
Mùa thu Thái Nguyên không chỉ có câu then, câu lượn, câu Quan họ làm duyên. Mùa Thu còn điệu Páo dung trên núi cao, tiếng sáo Mông vi vút trong thung lũng hay điệu Soọng cô về đạo lý sống, kinh nghiệm truyền đời,…
Sông Cầu chảy về đâu? Có đem theo những câu dân ca từ Thái Nguyên với vui buồn được mất? Tôi chỉ biết dòng sông nào cũng thủy chung và biết ơn mảnh đất nghĩa tình mà nó đi qua.
