Đưa di sản Hán Nôm xứ Quảng vào đời sống đương đại
VHXQ - Trong kho tàng di sản văn hóa xứ Quảng, Hán Nôm là một lớp ký ức đặc biệt. Đó không chỉ là những văn bản cổ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, mà còn là vật lưu giữ lịch sử vùng đất, dòng họ, làng xã, truyền thống khoa bảng, đạo lý gia phong và những dấu ấn văn hóa của nhiều thế hệ.
Để những tư liệu Hán - Nôm không chỉ nằm trong tủ hồ sơ lưu trữ, phòng trưng bày hay trên những bức hoành phi, câu đối, cần một cách tiếp cận mới: bảo tồn đi đôi với phát huy, đưa Hán - Nôm từ “di sản được lưu giữ” trở thành “di sản được sử dụng, trải nghiệm và trao truyền” trong đời sống hôm nay.

Ông Nguyễn Hữu Tữu, 90 tuổi (xã Thăng Bình) giới thiệu cuốn tộc ước bằng chữ Hán của dòng họ Nguyễn Hữu - tư liệu gia tộc được ông gìn giữ qua nhiều năm. Ảnh: TRẦN VŨ
Từ một cuốn tộc ước đến câu chuyện của cộng đồng
Chuyến khảo sát của Bảo tàng Đà Nẵng tại Thăng Bình trong tháng 8/2026 cho thấy giá trị của di sản Hán - Nôm đôi khi bắt đầu từ những điều rất gần gũi. Tại một gia đình, ông Nguyễn Hữu Tựu, 90 tuổi, vẫn gìn giữ cuốn tộc ước bằng chữ Hán của dòng họ Nguyễn Hữu qua nhiều năm. Với gia đình, đó là một tư liệu quý của dòng họ. Nhưng dưới góc nhìn bảo tàng học, cuốn tộc ước còn có thể trở thành “chìa khóa” để tìm hiểu về gia phong, quan niệm giáo dục, tổ chức dòng họ và những chuẩn mực ứng xử của cộng đồng trong quá khứ. Đó chính là giá trị đặc biệt của di sản Hán - Nôm xứ Quảng: mỗi văn bản có thể là một mảnh ghép của lịch sử địa phương.
Nhận thức rõ điều đó, Bảo tàng Đà Nẵng đang triển khai kế hoạch khảo sát, sưu tầm tư liệu, hiện vật về truyền thống hiếu học xứ Quảng. Đối tượng được tiếp cận khá rộng, từ gia phả, tộc phả, sắc phong, văn bằng, hoành phi, câu đối đến tư liệu về văn chỉ, từ đường, trường học và kỷ vật của các nhà giáo, trí thức, nhân vật khoa bảng. Đặc biệt, phương pháp được xác định không chỉ tập trung vào sưu tầm hiện vật mà kết hợp điều tra điền dã, tra cứu tài liệu lưu trữ và phỏng vấn nhân chứng, đi tìm câu chuyện, con người và mạng lưới truyền trao tri thức phía sau mỗi hiện vật.
Đưa Hán Nôm vào bảo tàng bằng một ngôn ngữ mới
Một trong những thách thức lớn nhất của bảo tồn di sản Hán - Nôm hiện nay là khoảng cách giữa di sản và công chúng. Với phần đông người Việt Nam hiện nay một trang văn bản Hán Nôm nếu chỉ được trưng bày bản gốc sẽ rất khó tiếp cận. Vì vậy, bảo tàng cần thực hiện đồng thời bốn bước: bảo tồn bản gốc - số hóa - phiên âm, dịch nghĩa - diễn giải cho công chúng.
Một gia phả không nên chỉ được giới thiệu là “gia phả dòng họ X”, mà có thể kể câu chuyện: dòng họ hình thành như thế nào, những nhân vật nào đã làm nên danh tiếng, quê hương đã thay đổi ra sao qua các thế hệ. Một sắc phong không chỉ cần cho biết niên đại, triều vua, mà cần giải thích nhân vật được phong là ai, bối cảnh ban sắc, công trạng phụng sự và chiều sâu tín ngưỡng cộng đồng.
Bảo tàng Đà Nẵng đang hướng đến số hóa, chụp ảnh tư liệu tại chỗ, xây dựng bộ ảnh về các địa điểm lưu giữ di sản như văn miếu, văn thánh, từ đường, trường học xưa…; đồng thời thực hiện các bản dập mộc bản phục vụ nghiên cứu, trưng bày. Đây là nền tảng để tiến tới xây dựng “Kho dữ liệu Hán - Nôm xứ Quảng” trên môi trường số, trong đó mỗi tư liệu gắn với hình ảnh bản gốc, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích, địa điểm, nhân vật và câu chuyện liên quan. Mã QR tại bảo tàng, di tích sẽ giúp công chúng tiếp cận những nội dung này ngay trên điện thoại.

Ông Nguyễn Thanh Hà dịch và giải nghĩa nội dung chữ Hán khắc trên bản gỗ do tộc Nguyễn Văn xã Quế Sơn Trung lưu giữ. Ảnh: TRẦN VŨ
Và đưa Hán Nôm trở lại đời sống
Giá trị di sản chỉ thực sự được bảo đảm khi có thế hệ tiếp nối. Vì vậy, có thể đưa di sản Hán - Nôm vào giáo dục lịch sử địa phương bằng những hình thức trực quan, trải nghiệm. Học sinh có thể cùng bảo tàng “giải mã” gia phả, sắc phong, câu đối; quan sát bản gốc, thực hiện bản rập, nhận diện mặt chữ, tìm tên địa danh, nhân vật rồi kể lại câu chuyện bằng ngôn ngữ của mình. Khi ấy, chữ Hán Nôm không còn xa lạ mà trở thành công cụ để các em hiểu hơn về quê hương.
Di sản Hán - Nôm cũng có thể tạo chiều sâu cho du lịch văn hóa xứ Quảng. Một tuyến trải nghiệm kết nối bảo tàng với đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, làng cổ và di tích sẽ biến mỗi điểm đến thành một “trang sách mở”, nơi du khách khám phá lịch sử làng xã, dòng họ, tín ngưỡng qua văn bia, sắc phong, gia phả, hoành phi, câu đối. Những hoạt động như làm bản rập, tìm chữ, xác định nhân vật hay ghép các dữ kiện lịch sử có thể biến di sản từ thứ để “ngắm” thành điều để khám phá.
Cùng với tư liệu, cần trân trọng những người đang gìn giữ chúng trong cộng đồng như các bậc cao niên, trưởng tộc, thủ từ, nhà nghiên cứu địa phương. Họ không chỉ gìn giữ văn bản mà còn lưu truyền cách đọc, cách hiểu và những câu chuyện mà giấy mực không thể nói hết. Quan trọng hơn, cộng đồng phải là chủ thể của việc bảo tồn. Bảo tàng Đà Nẵng có thể làm đầu mối kết nối các dòng họ, làng xã, nhà trường, giới nghiên cứu và cơ quan lưu trữ, từng bước hình thành mạng lưới bảo tồn di sản Hán - Nôm xứ Quảng. Mô hình “Mỗi làng một địa chỉ di sản Hán - Nôm” có thể được triển khai để hỗ trợ kiểm kê, số hóa, bảo quản tư liệu tại chỗ trên nguyên tắc tự nguyện, minh bạch và tôn trọng quyền sở hữu.
Đưa di sản Hán - Nôm vào đời sống không phải để phục hồi một loại chữ cổ, mà để đưa lịch sử vùng đất, ký ức làng quê, dòng họ, đạo lý gia đình và truyền thống hiếu học trở lại với con người hôm nay. Khi những câu chữ của người xưa trên chính quê hương mình được đọc, hiểu và trân trọng, chữ Hán Nôm sẽ không còn chỉ là di sản của quá khứ, mà tiếp tục sống trong hiện tại và tương lai.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dua-di-san-han-nom-xu-quang-vao-doi-song-duong-dai-3354489.html

