Sắc phong kể chuyện làng

VHXQ - Mỗi đạo sắc không chỉ mang giá trị tín ngưỡng mà còn lưu dấu mối quan hệ giữa nhà nước, cộng đồng làng xã và những người được tôn vinh.

Một đạo sắc phong thần ở làng Nam An/Nam Thọ, phường Sơn Trà, niên đại Thiệu Trị 3. Ảnh: Đ.T

Một đạo sắc phong thần ở làng Nam An/Nam Thọ, phường Sơn Trà, niên đại Thiệu Trị 3. Ảnh: Đ.T

Sắc phong thần là cơ sở để cộng đồng làng xã thờ phụng các vị thần, đồng thời phản ánh cách nhà nước phong kiến xác lập uy quyền và quản lý đời sống tín ngưỡng. Với những người có công hoặc có năng lực, sắc phong còn là sự ghi nhận của nhà vua, trao cho họ một số chức vụ nhất định trong bộ máy chính quyền.

Ở Đà Nẵng hiện còn lưu giữ được khoảng 1.000 đạo sắc phong thần, phân bố chủ yếu ở các xã, phường như Sơn Trà, Hòa Xuân, Hòa Vang, Hội An, Hội An Đông, Hội An Tây, Duy Xuyên... Những nơi bảo lưu được nhiều sắc phong hiện nay là làng Minh Hương 39 sắc, làng Cẩm Phô (phường Hội An) 37 sắc, Nam Thọ (phường Sơn Trà) 34 sắc, Mỹ Xuyên Đông (xã Nam Phước) 32 sắc, Túy Loan (xã Hòa Vang) 25 sắc, Xuân Lộc (phường Hòa Khánh) 20 sắc... Riêng sắc phong nhân vật nằm rải rác tại các tư gia, không tập trung nổi bật ở vùng nào.

Nhận diện hai loại sắc phong

Nếu tình cờ bắt gặp một đạo sắc, làm thế nào để nhận biết đó là sắc phong thần hay sắc phong nhân vật? Bên cạnh nơi lưu giữ, diện mạo và cấu trúc văn bản là những dấu hiệu quan trọng. Sắc phong thần thường dài hơn một mét, nổi bật với họa tiết vân long và mở đầu bằng công thức “Sắc ban cho…” gắn với địa danh và tên thần; nội dung tiếp tục ghi mỹ hiệu, phẩm trật được gia tặng. Trong khi đó, sắc phong nhân vật thường ngắn hơn, có loại trơn nhẵn, có loại trang trí đơn giản, với cấu trúc “Sắc + chức vụ + họ tên + quê quán”, sau đó là phần ghi công và lời ban thưởng của nhà vua. Dẫu vậy, hình thức sắc phong không phải lúc nào cũng hoàn toàn theo khuôn mẫu, vẫn có những ngoại lệ đáng chú ý.

Một trường hợp như vậy là sắc phong lưu giữ tại nhà thờ phái Nhì họ Huỳnh, làng Minh Châu, nay là làng Quang Châu thuộc phường Hòa Xuân. Đây là một bản sắc phong nhân vật nhưng lại có hình thức gần giống sắc phong thần. Vì vậy, để nhận diện chính xác, cần đối chiếu cả hình thức, nội dung và cấu trúc văn bản.

Nhìn chung, thông qua sắc phong, người ta biết được nguồn cội lịch sử của làng xã cùng văn hiến được bồi đắp qua nhiều thập kỷ, từ địa danh, địa giới đến những vị thần linh được thờ phụng, những tiền hiền, hậu hiền có công khai ấp lập làng, những nhân vật có nhiều đóng góp cho làng nước. Kỹ thuật in ấn, chế tác giấy, đồ án hoa văn trang trí trên sắc phong cũng có sức hút riêng đối với giới nghiên cứu.

Sắc phong nhân vật Trần Sài ở phường Quảng Phú năm Thiệu Trị 6. Ảnh: Đ.T

Sắc phong nhân vật Trần Sài ở phường Quảng Phú năm Thiệu Trị 6. Ảnh: Đ.T

Khi đạo sắc được linh thiêng hóa

Sắc phong là văn bản vua ban, lại được linh thiêng hóa qua lăng kính tâm thức của người dân, do đó trong quá khứ, loại tư liệu này được cất giữ rất cẩn trọng. Lệ xưa, mỗi lần có lễ hội đình làng mới tổ chức rước sắc cúng. Lễ rước sắc được chuẩn bị kỹ càng, chọn ngày xem giờ, tổ chức nghiêm trang và long trọng. Việc xem sắc ở tư gia cũng không đơn giản, nhất thiết phải có vị trưởng bối hiểu biết nghi lễ, thắp hương cầu khấn rồi mới được hạ sắc.

Cho dù được đối xử với thái độ trân trọng, kính ngưỡng, nhưng theo thời gian, sắc phong không tránh khỏi hư hại. Hiện nay, có đến 40 - 50% sắc phong đã không còn nguyên dạng, với những biểu hiện cụ thể như mờ chữ, rách, thủng cục bộ; thậm chí nhiều sắc đã bị giòn, vỡ thành những mảnh giấy nhỏ, phải sắp đặt, lắp ghép lại mới có thể đọc được. Ngoài nguyên nhân chính do giới hạn về “độ tuổi” của chất liệu giấy làm sắc, còn có những nguyên nhân khác liên quan đến khâu kỹ thuật bảo quản. Mặt khác, tục lệ thỉnh và mở sắc nghiêm ngặt của dân gian cũng hạn chế tính kịp thời của việc nắm bắt tình trạng sắc phong.

Để sắc phong được “lên tiếng”

Để bảo tồn hiệu quả di sản văn hóa này, trước hết cần nâng cao ý thức của người dân sở tại, trong đó then chốt là dịch thuật, giới thiệu, công bố rộng rãi nội dung và ý nghĩa sắc phong. Cần xây dựng các đề án lớn, đồng bộ, thống nhất trong toàn thành phố, thay vì thực hiện các dự án nhỏ lẻ, manh mún, mạnh ai nấy làm.

Song hành với đó, cần tiến hành số hóa sắc phong, đưa vào dữ liệu chung và quy nạp về một đơn vị công lập khai thác chủ động. Phần kinh phí thu được từ hoạt động khai thác chủ động một phần sẽ đưa trở lại bảo tồn di sản văn hóa. Điều này không chỉ hạn chế, tiến tới triệt tiêu sự chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập mà còn giảm bớt áp lực tài chính trong công tác bảo tồn di sản.

Ngoài ra, việc trưng bày, phục chế sắc phong cũng góp phần đưa di sản đến gần hơn với công chúng xa gần, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa.

Thiết nghĩ, để sắc phong thực sự là những di sản quý báu, được “lên tiếng” về sự hiện diện của mình trong xã hội hiện đại, cần có những động thái bảo tồn đồng bộ, thống nhất và thực chất.

ĐINH TOAN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/sac-phong-ke-chuyen-lang-3354492.html