Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục
HNN - Xuất phát từ góc nhìn từ thực tiễn của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, nhiều thế hệ ở Trung tâm Bảo tồn đi tích Cố đô Huế luôn trăn trở trước câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ 'được giữ gìn'...
Di tích thành "lớp học mở"
Giáo dục di sản không đơn thuần là một hoạt động ngoại khóa, mà cần được xem như một phần quan trọng của giáo dục toàn diện. Khi di sản Huế trở thành “lớp học mở”, nơi học sinh được học bằng trải nghiệm, cảm xúc và sự tương tác, thì những giá trị văn hóa sẽ được truyền tiếp một cách tự nhiên, bền vững và có sức lan tỏa lâu dài trong xã hội.
Giá trị lớn nhất mà học sinh nhận được từ di sản không chỉ là tri thức lịch sử, mà còn là sự hình thành nhân cách và bản sắc văn hóa. Di sản giúp các em hiểu mình là ai, đến từ đâu, và có trách nhiệm như thế nào với cộng đồng. Từ đó, các em học được lòng tự hào dân tộc, ý thức trân trọng quá khứ, cũng như tinh thần gìn giữ và sáng tạo để di sản tiếp tục thích ứng với thời đại mới.

Học sinh trải nghiệm thực hành tô màu di sản với chuyên gia Đức - bà Andrea Teufel
Từ nhiều năm nay, giáo dục di sản trong trường học trên địa bàn thành phố Huế do Trung tâm triển khai gồm các hình thức sau: Chương trình tham quan, tìm hiểu di sản (tự do); Chương trình tham quan, trải nghiệm theo yêu cầu tại khu di sản Huế (từ các nội dung Trung tâm đã xây dựng); Chương trình giáo dục di sản khác. Trong năm 2025, đã có 60.880 học sinh các cấp tại Huế cùng 4.176 giáo viên tham gia các chương trình giáo dục di sản ở Cố đô Huế.
Các chương trình như tham quan, trò chơi truyền thống, tìm hiểu di sản thông qua hoạt động tương tác thu hút hàng chục nghìn học sinh tham gia mỗi năm. Hoạt động được tổ chức rộng khắp từ cấp tiểu học đến THCS, THPT, giúp học sinh cảm nhận sâu hơn về lịch sử và văn hóa Cố đô. Trẻ em (mẫu giáo) và học sinh đang ngày càng có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với di sản, nhờ đó mở rộng hiểu biết và nuôi dưỡng tình yêu văn hóa địa phương từ sớm.
Qua các hoạt động như học sinh thưởng thức biểu diễn nghệ thuật cung đình, trải nghiệm cùng nhạc cụ; tham gia trò chơi truyền thống liên quan tới lịch sử Huế, tham quan thực tế tại di tích lịch sử và trải nghiệm nhiều hoạt động tương tác, v.v. nhiều em bộc lộ sự hứng thú, tò mò và mong muốn tìm hiểu sâu hơn về di sản. Những hoạt động này giúp chuyển hóa kiến thức lịch sử khô khan thành trải nghiệm thú vị, kích thích sự tò mò và sự trân trọng di sản trong các em.
Huế bắt đầu manh nha thực hiện giáo dục di sản từ năm 2011 và đến nay, rào cản lớn nhất vẫn là khoảng cách giữa di sản và nhà trường, nguyên nhân thiếu kết nối hiệu quả giữa nội dung di sản và chương trình giáo dục phổ thông. Chẳng hạn như di sản bị “hàn lâm hóa”; chương trình học quá tải; thiếu đội ngũ trung gian giáo dục di sản; nhận thức chưa đồng đều... Và quan trọng hơn, di sản chưa được tích hợp một cách hệ thống, linh hoạt vào quá trình dạy, học chính khóa.
Nhiều năm qua, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế được xem là đơn vị đi đầu cả nước về giáo dục di sản gắn với học đường, với nhiều mô hình, cách làm đổi mới.

Lớp vẽ di sản dành cho học sinh
Biến di tích thành “lớp học mở”, làm công cụ trực quan, làm ví dụ sinh động. Huế không đưa học sinh chỉ đi tham quan, mà tổ chức học tập trực tiếp tại di tích: học lịch sử triều Nguyễn ngay tại Hoàng Thành; học kiến trúc, mỹ thuật tại lăng vua, cung điện; học nghi lễ cung đình tại Thế Miếu, Điện Thái Hòa,… Nghĩa là học sinh “chạm” vào không gian thật, thay vì chỉ đọc sách.
Xây dựng chương trình trải nghiệm tương tác như “Em làm nhà khảo cổ nhỏ tuổi” (chương trình Đế đô khảo cổ ký, thông qua tìm hiểu hiện vật, phục dựng mô phỏng), “Em làm nhạc công Nhã nhạc” (học sinh trải nghiệm, tập dùng bộ gõ nhạc cụ cung đình rồi cùng dàn Tiểu Nhạc biểu diễn); Trải nghiệm thư pháp, In bản rập Cửu Đình, tô màu họa tiết cung đình;… nghĩa là học sinh được nhập vai, thực hành, trải nghiệm, tự tìm hiểu, đặt câu hỏi, … thay cho nghe thuyết minh một chiều.
Trung tâm đã phối hợp xây dựng chương trình giáo dục di sản theo từng cấp học; tổ chức tập huấn, trao đổi cùng giáo viên; thiết kế bộ học liệu, giáo trình di sản phù hợp lứa tuổi. Do vậy, di sản có thể trở thành tài nguyên giáo dục chính thức, không còn là hoạt động tham quan, giải trí.
Điểm thành công lớn nhất của mô hình Huế là chuyển di sản từ đối tượng bảo tồn, giới thiệu sang công cụ giáo dục: từ tĩnh sang động, từ bảo tàng sang đời sống. Để từ cơ sở đó nuôi dưỡng tình yêu di sản cho con người từ nhỏ, nhằm hình thành ý thức bảo tồn bền vững và hướng đến xây dựng công chúng di sản tương lai.
Nuôi dưỡng tình yêu, tạo nguồn cảm hứng
Huế là địa phương đi đầu và là số ít của ở cả nước thực hiện chính sách miễn phí tham quan cho học sinh trên địa bàn thành phố, thực hiện từ năm 2011 do Hội đồng nhân dân địa phương thông qua. Từ năm 2026, tiếp tục thực hiện miễn 100% phí tham quan cho học sinh cả nước và giảm 50% cho sinh viên cả nước. Thế hệ trẻ vì vậy có cơ hội và điều kiện để tiệm cận với di sản.

Học sinh tham quan cổ vật tại cung Diên Thọ, Đại Nội
Khi học sinh, sinh viên Huế nói riêng và cả nước nói chung được tiếp cận di sản từ sớm, hình thành một thế hệ trẻ vừa hiểu rõ, hiểu sâu cội nguồn, vừa có năng lực sáng tạo để làm mới giá trị truyền thống. Do vậy, kỳ vọng có thể hình thành ý thức bảo vệ và tự hào văn hóa: Tiếp xúc sớm với di sản giúp các em nhận thức rõ giá trị lịch sử, thẩm mỹ, tinh thần của cha ông, từ đó xây dựng thái độ trân trọng, tự hào và trách nhiệm gìn giữ.
Nhận thức di sản sẽ nuôi dưỡng bản sắc và nhân cách vì lẽ di sản không chỉ là hiện vật hay lễ hội, mà còn là hệ giá trị đạo đức, lối sống, nếp ứng xử. Điều này góp phần hình thành nhân cách hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Di sản có khả năng khơi gợi năng lực sáng tạo và khởi nghiệp văn hóa, thế hệ trẻ có thể biến di sản thành nguồn cảm hứng cho thiết kế, nghệ thuật, du lịch sáng tạo, truyền thông số, từ đó tạo ra giá trị mới cho xã hội.
Điều cần nói thêm là xã hội cần có giải pháp nuôi dưỡng tình yêu di sản một cách bền vững bằng cách đưa di sản vào giáo dục một cách sinh động; ứng dụng công nghệ và truyền thông số; số hóa di sản, xây dựng tour tham quan ảo, video ngắn, podcast, game hóa kiến thức lịch sử, văn hóa để phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của giới trẻ; khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia sáng tạo nội dung về di sản trên các nền tảng mạng xã hội; gắn bảo tồn với sinh kế và cơ hội nghề nghiệp; gia đình, nhà trường và xã hội cần cùng nhau tạo môi trường văn hóa lành mạnh, tôn vinh những tấm gương trẻ tích cực trong bảo tồn di sản.
Cuối cùng cần khẳng định rằng, khi di sản trở thành tài nguyên giáo dục, thế hệ trẻ sẽ được tiếp cận di sản từ sớm, không chỉ để biết mà quan trọng hơn là để hiểu, để yêu và để hành động. Nếu được định hướng đúng, thế hệ học sinh, sinh viên hôm nay có thể trở thành lực lượng nòng cốt vừa gìn giữ, vừa làm mới di sản bằng nhiều cách thức để góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam chủ động hội nhập trong tiến trình phát triển.












