Đưa Nghị quyết 57 vào sản xuất, quản trị tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam: minh chứng thực tiễn cho đường lối phát triển khoa học công nghệ của Đảng

Từ ứng dụng robot trong sản xuất, phát triển VinachemMart đến định hướng xây dựng Trung tâm R&D…, Vinachem cho thấy nỗ lực chuyển đổi mạnh mẽ của doanh nghiệp nhà nước trong ngành công nghiệp nền tảng, góp phần khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số của Đảng.

Tóm tắt: Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. Tiếp thu tinh thần đó, Vinachem đang từng bước đưa Nghị quyết 57 vào thực tiễn thông qua đổi mới công nghệ, tự động hóa sản xuất, phát triển hệ sinh thái số và xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Từ ứng dụng robot trong sản xuất, phát triển VinachemMart đến định hướng xây dựng Trung tâm R&D…, Vinachem cho thấy nỗ lực chuyển đổi mạnh mẽ của doanh nghiệp nhà nước trong ngành công nghiệp nền tảng, góp phần khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số của Đảng.

Từ khóa: Nghị quyết 57, Vinachem; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; đường lối của Đảng.

Vinachem chuyển mình trong kỷ nguyên số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi phát triển lực lượng sản xuất hiện đại là điều kiện quyết định để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của khoa học trong sự phát triển xã hội đến đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, khoa học công nghệ ngày càng được xác định là động lực then chốt của tăng trưởng, là nền tảng nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế.

Bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhận thức ấy tiếp tục được phát triển lên tầm cao mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và được cụ thể hóa sâu sắc trong Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57) của Bộ Chính trị. Nghị quyết khẳng định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là “động lực chính” để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tinh thần đó không chỉ mở ra định hướng phát triển mới cho đất nước, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp nhà nước trong việc tiên phong đổi mới công nghệ, làm chủ hạ tầng số và hình thành mô hình sản xuất hiện đại. Trong bối cảnh ấy, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đang cho thấy nỗ lực chuyển mình mạnh mẽ khi từng bước đưa Nghị quyết 57 vào thực tiễn sản xuất, quản trị và phát triển doanh nghiệp.

Từ hợp tác nghiên cứu với Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; định hướng xây dựng Trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D); nghiên cứu cơ hội tham gia chuỗi giá trị ngành công nghiệp bán dẫn; đến ứng dụng robot trong sản xuất, phát triển hệ sinh thái số và xây dựng các nền tảng số phục vụ nông nghiệp… Vinachem đang tạo ra những chuyển động cụ thể trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Điều đáng chú ý là những chuyển động ấy không dừng ở khẩu hiệu hay định hướng chiến lược, mà đã được kiểm chứng bằng hiệu quả thực tiễn trong sản xuất, quản trị và kết nối thị trường. Từ các dây chuyền robot hóa tại các nhà máy sản xuất đến nền tảng thương mại điện tử VinachemMart và hệ sinh thái số phục vụ nông nghiệp, quá trình chuyển đổi số tại Vinachem đang góp phần hình thành mô hình sản xuất thông minh, quản trị dựa trên dữ liệu và từng bước xây dựng lực lượng sản xuất mới trong ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam.

Thực tiễn đó là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn trong đường lối của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời góp phần phản bác những quan điểm sai trái, phiến diện cho rằng doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới, khó thích ứng với công nghệ hiện đại hoặc không đủ khả năng dẫn dắt các ngành công nghiệp nền tảng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.

Nghị quyết 57 - Bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại

Từ lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin đến thực tiễn đổi mới ở nước ta có thể thấy một mạch tư duy xuyên suốt: khoa học công nghệ không chỉ đóng vai trò hỗ trợ sản xuất mà ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong nền kinh tế số, tri thức, dữ liệu và công nghệ đang trở thành những nguồn lực phát triển có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của mỗi quốc gia.

Nhận thức đó được Đảng ta phát triển liên tục qua các kỳ đại hội và các nghị quyết chuyên đề. Nếu trong giai đoạn đầu đổi mới, khoa học công nghệ được xác định là “quốc sách hàng đầu”, thì đến giai đoạn hiện nay, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị chính là bước phát triển mới trong tư duy lý luận ấy. Nghị quyết không nhìn khoa học công nghệ như một lĩnh vực chuyên môn đơn thuần, mà đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia; gắn trực tiếp với nhiệm vụ xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Điểm cốt lõi của Nghị quyết 57 là chuyển mạnh từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang tư duy “làm chủ công nghệ”; từ coi khoa học công nghệ là công cụ hỗ trợ sang xác định đây là động lực phát triển quan trọng nhất trong kỷ nguyên số. Điều đó phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về vai trò của tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện mới.

Tinh thần đó càng có ý nghĩa trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, chất bán dẫn và chuỗi cung ứng toàn cầu. Quốc gia nào không làm chủ được công nghệ lõi, không xây dựng được năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ dễ rơi vào phụ thuộc, tụt hậu và bị động trong phát triển.

Đối với ngành hóa chất, tinh thần của Nghị quyết 57 mang ý nghĩa đặc biệt chiến lược. Đây là ngành công nghiệp nền tảng, liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, năng lượng, vật liệu mới, điện tử, quốc phòng và nhiều lĩnh vực sản xuất thiết yếu khác. Nếu không làm chủ được công nghệ hóa chất, không phát triển được hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, thì rất khó xây dựng nền công nghiệp độc lập, tự chủ và có khả năng cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chính vì vậy, việc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam triển khai Nghị quyết 57 không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà còn mang ý nghĩa tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng lực lượng sản xuất mới của đất nước.

Tiếp thu tinh thần của Nghị quyết 57, Vinachem xác định rõ yêu cầu đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính, đóng góp thực chất vào mục tiêu phát triển của Tập đoàn; tạo chuyển biến mạnh mẽ về chuyển đổi số liên thông, đồng bộ trong toàn hệ thống và với các cơ quan quản lý; thúc đẩy nghiên cứu theo chuỗi giá trị, mô hình kinh tế tuần hoàn, gắn nghiên cứu với ứng dụng và nhu cầu thị trường.

Cùng với đó, Tập đoàn ưu tiên phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược của ngành hóa chất nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi xanh, kiểm soát nghiêm an toàn hóa chất và phát triển kinh tế tuần hoàn trong hoạt động sản xuất.

Có thể thấy, Nghị quyết 57 được Vinachem tiếp cận không phải như một phong trào ngắn hạn, mà như một trục phát triển mới của mô hình tăng trưởng. Đó là quá trình chuyển từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động và mở rộng sản lượng sang tư duy dựa trên tri thức, dữ liệu, công nghệ và năng lực tự chủ.

Chính ở đây, nội hàm của “xây dựng lực lượng sản xuất mới” được thể hiện rõ trong thực tiễn ngành Hóa chất: không chỉ đổi mới máy móc, dây chuyền hay phương thức quản trị, mà quan trọng hơn là xây dựng năng lực nghiên cứu, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Vinachem hiện thực hóa Nghị quyết 57 bằng đổi mới công nghệ và chuyển đổi số

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được thực hiện trên mặt trận lý luận, mà còn phải được kiểm chứng bằng thành tựu phát triển trong thực tiễn. Trong lĩnh vực kinh tế, điều đó thể hiện trực tiếp qua hiệu quả hoạt động, năng lực đổi mới và vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Thời gian qua, vẫn tồn tại những quan điểm phiến diện cho rằng doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới, khó thích ứng với công nghệ hiện đại và dần mất vai trò dẫn dắt trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho thấy điều ngược lại: nếu có định hướng đúng, quyết tâm đổi mới và cách tổ chức thực hiện bài bản, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn có thể đi đầu trong đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại.

Một trong những quan điểm xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng là kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong các lĩnh vực trọng yếu, thiết yếu của nền kinh tế. Với ngành hóa chất, vai trò đó càng mang ý nghĩa chiến lược bởi đây là ngành công nghiệp nền tảng, liên quan trực tiếp đến an ninh nguyên liệu, an ninh phân bón, an ninh hóa chất, năng lực tự chủ công nghiệp và nhiều lĩnh vực sản xuất quan trọng khác.

Trong nhiều năm qua, Vinachem không chỉ thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, mà còn đảm nhiệm trách nhiệm chính trị quan trọng trong bảo đảm nguồn cung phân bón, hóa chất và nhiều sản phẩm thiết yếu phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và đời sống dân sinh. Vì vậy, triển khai Nghị quyết 57 tại Vinachem không đơn thuần là yêu cầu nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, mà còn là quá trình hiện đại hóa ngành hóa chất theo hướng xanh, số hóa và tự chủ công nghệ.

Tiếp thu tinh thần Nghị quyết 57, Vinachem xác định rõ yêu cầu đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển chủ yếu; tạo chuyển biến mạnh mẽ về quản trị số, sản xuất số và liên thông dữ liệu trong toàn Tập đoàn; thúc đẩy nghiên cứu theo chuỗi giá trị, mô hình kinh tế tuần hoàn và gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường.

Điểm đáng chú ý là Vinachem triển khai chuyển đổi số theo hướng bài bản, có lộ trình rõ ràng và gắn trực tiếp với yêu cầu thực tiễn của sản xuất công nghiệp, thay vì chạy theo phong trào hay hình thức.

Trên lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ, Vinachem đã ký thỏa thuận hợp tác với Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Một số đơn vị thành viên như Công ty Cổ phần Pin Ắc quy Miền Nam và Công ty Cổ phần Hóa chất Cơ bản Miền Nam cũng đã triển khai hợp tác với các viện, trường để nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.

Song song với đó, Tập đoàn triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ nghiên cứu cơ hội và khả năng tham gia chuỗi giá trị ngành công nghiệp bán dẫn, lĩnh vực đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cạnh tranh công nghệ toàn cầu.

Đáng chú ý, Vinachem đang nghiên cứu đầu tư Trung tâm Nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc với quy mô khoảng 3 ha, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.500 tỷ đồng trong giai đoạn 2026 - 2030.

Theo định hướng, Trung tâm sẽ tập trung vào bốn lĩnh vực trọng tâm gồm hóa chất siêu tinh khiết, hóa dược, vật liệu mới và giải quyết các bài toán kỹ thuật, công nghệ phát sinh trong quá trình sản xuất của các đơn vị thành viên. Đây đều là những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, bởi hóa chất siêu tinh khiết và vật liệu mới là nền tảng phục vụ công nghiệp điện tử, bán dẫn và công nghệ cao.

Việc nghiên cứu triển khai Trung tâm không chỉ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, mà còn tạo nền tảng để Vinachem từng bước làm chủ công nghệ lõi, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong toàn Tập đoàn.

Vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước còn được thể hiện rõ trong tổ chức chuyển đổi số. Hệ thống báo cáo của Vinachem đã được cấu hình liên thông với hệ thống báo cáo của Bộ Tài chính nhằm cung cấp dữ liệu trực tuyến phục vụ công tác quản lý, điều hành. Tập đoàn đồng thời xây dựng hệ sinh thái số gồm VinachemMart, I-Office và hệ thống báo cáo quản trị hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Ngày 13/02/2026, Hội đồng thành viên Vinachem ban hành Quyết định số 88/QĐ-HCVN về Kế hoạch chuyển đổi số toàn diện giai đoạn 2026 - 2030 và Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030 với các mục tiêu số hóa dữ liệu, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, số hóa quy trình quản trị, xây dựng hệ thống báo cáo quản trị đồng bộ và hình thành lực lượng lao động có kỹ năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

Có thể thấy, Vinachem đang lựa chọn hướng phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo thay vì tăng trưởng theo chiều rộng như trước đây. Đó là quá trình chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động và sản lượng sang mô hình tăng trưởng dựa trên dữ liệu, công nghệ, năng suất và năng lực tự chủ.

Những kết quả tại Vinachem cho thấy, khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt vào trung tâm chiến lược phát triển, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn có thể tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, hiệu quả quản trị và năng lực tự chủ công nghệ.

Đó cũng là minh chứng thực tiễn góp phần khẳng định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng; đồng thời bác bỏ những quan điểm phiến diện phủ nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong phát triển công nghiệp nền tảng và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh mới.

Nghị quyết 57 mở đường cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại Vinachem

Giá trị của một nghị quyết không chỉ nằm ở tầm vóc tư tưởng, mà còn được kiểm chứng bằng khả năng đi vào đời sống sản xuất. Tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, tinh thần của Nghị quyết 57 đang từng bước được hiện thực hóa bằng quá trình tự động hóa sản xuất, chuyển đổi số quản trị và xây dựng mô hình công nghiệp xanh, thông minh.

Robot xếp thùng lên pallet tại LIX giúp tự động hóa khâu bốc xếp, tiết giảm nhân công và nâng cao hiệu quả sản xuất

Robot xếp thùng lên pallet tại LIX giúp tự động hóa khâu bốc xếp, tiết giảm nhân công và nâng cao hiệu quả sản xuất

Từ các dây chuyền phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công, nhiều đơn vị thành viên của Vinachem đã bắt đầu chuyển sang mô hình sản xuất ứng dụng robot và công nghệ tự động hóa. Hiện nay, đã có ba đơn vị triển khai hệ thống robot tự động gồm Công ty Cổ phần Bột giặt Lix (Lixco), Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (DRC) và Công ty Cổ phần DAP số 2 - Vinachem (DAP 2). Các đơn vị còn lại cũng đang xây dựng kế hoạch đầu tư hệ thống tự động hóa phù hợp với nhu cầu và điều kiện sản xuất thực tế. Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình sản xuất thông minh, giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, nâng cao năng suất và hiệu quả quản trị.

Tại Lixco, hiệu quả của tự động hóa được thể hiện khá rõ cả về năng suất lao động lẫn hiệu quả tài chính. Doanh nghiệp đã đầu tư 4 robot xếp thùng lên pallet tại Nhà máy Lix Bình Dương, 3 robot tại Nhà máy Lix Thủ Đức và 2 robot tại Nhà máy Lix Bắc Ninh.

Riêng tại Chi nhánh Bình Dương, số lao động trực tiếp giảm từ 45 người xuống còn 12 người; chi phí nhân công giảm từ khoảng 6,75 tỷ đồng/năm xuống còn khoảng 1,8 tỷ đồng/năm. Sau khi tính thêm khoảng 300 triệu đồng chi phí bảo hành, bảo trì mỗi năm, mức tiết giảm thực tế vẫn đạt khoảng 4,65 tỷ đồng/năm.

Tại Lix Bắc Ninh, công đoạn bốc xếp giảm từ 10 lao động phổ thông mỗi ca xuống còn 2 người vận hành máy. Dự án có thời gian hoàn vốn khoảng 7,76 năm; giá trị hiện tại ròng (NPV) đạt 3.260 triệu đồng và tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) đạt 17%, cao hơn chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) 12%.

Trong khi đó, tại Lix Thủ Đức, số lao động trực tiếp giảm từ 14 người xuống còn 2 người; chi phí nhân công giảm từ khoảng 2,1 tỷ đồng/năm xuống còn khoảng 300 triệu đồng/năm. Dự án có thời gian hoàn vốn khoảng 5,37 năm; NPV đạt 15.416,27 triệu đồng và IRR đạt 26,74%, cao hơn đáng kể so với WACC 12%.

Những chỉ số này cho thấy tự động hóa không chỉ giúp giảm lao động trực tiếp mà còn tạo hiệu quả tài chính rõ rệt, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nếu Lixco cho thấy hiệu quả của robot trong tối ưu nhân lực và chi phí, thì tại Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (DRC), tự động hóa lại tập trung vào nâng cao độ chính xác kỹ thuật và chất lượng sản phẩm.

Hệ thống robot cắt, nối vải tự động tại DRC giúp nâng cao năng suất và chất lượng trong sản xuất lốp ô tô

Hệ thống robot cắt, nối vải tự động tại DRC giúp nâng cao năng suất và chất lượng trong sản xuất lốp ô tô

DRC đã nghiên cứu, chế tạo máy cắt nối vải tự động bằng cánh tay robot phục vụ sản xuất lốp ô tô bias và lốp ô tô bán thép. Đây là công đoạn có yêu cầu kỹ thuật cao bởi các tấm vải mành sau khi cắt phải được nối thẳng mép, mật độ chồng mí đồng đều nhằm bảo đảm độ cân bằng và ổn định của lốp xe trong quá trình sử dụng.

Trước đây, công đoạn này được thực hiện thủ công, phụ thuộc nhiều vào tay nghề công nhân nên khó bảo đảm tính đồng đều và năng suất còn hạn chế. Việc ứng dụng robot kết hợp cảm biến hình ảnh CCD giúp định vị chính xác điểm nối, nâng cao độ đồng đều và ổn định của mối nối; đồng thời giảm chi phí bảo dưỡng, bảo trì so với phương pháp dán nối bằng xi lanh khí nén.

Máy cắt nối tự động đạt công suất khoảng 14 mối nối/phút và chỉ cần 1 công nhân vận hành, trong khi máy thủ công trước đây chỉ đạt khoảng 7 mối nối/phút và cần 2 công nhân đứng máy. Điều đó đồng nghĩa, để đạt năng suất tương đương một máy tự động, cần hai máy thủ công cùng vận hành với bốn công nhân. Việc ứng dụng robot vì thế không chỉ giúp tăng năng suất, giảm lao động trực tiếp mà còn nâng cao chất lượng kỹ thuật sản phẩm, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của ngành công nghiệp ô tô.

Trong khi đó, tại Công ty Cổ phần DAP số 2 - Vinachem, tự động hóa được triển khai ở công đoạn bốc xếp sản phẩm, một trong những khâu nặng nhọc nhất của dây chuyền sản xuất phân bón.

Doanh nghiệp đã đưa vào sử dụng hai robot gắp, xếp bao sản phẩm lên pallet. Theo thiết kế, mỗi pallet có tải trọng khoảng 2 tấn DAP với các bao 50 kg được robot sắp xếp tự động, đồng đều và chính xác.

Mỗi robot có năng suất thiết kế khoảng 40 tấn/giờ; thực tế vận hành đạt khoảng 40-45 tấn/giờ. Với hai robot đang hoạt động, hệ thống giúp giảm khoảng 24 lao động trực tiếp trong khâu bốc xếp.

Không chỉ mang lại hiệu quả về nhân lực, việc ứng dụng robot còn góp phần cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Trước đây, công nhân phải làm việc trong môi trường nóng, nặng nhọc và điều kiện không khí không thuận lợi. Khi robot thay thế công đoạn bốc xếp thủ công, sức lao động được giảm đáng kể; đồng thời việc xếp bao lên pallet cũng đồng bộ, chuẩn xác hơn, thuận lợi cho vận chuyển, lưu kho và xuất bán.

Sàn thương mại điện tử VinachemMart góp phần mở rộng kênh phân phối sản phẩm và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động thương mại của Vinachem

Sàn thương mại điện tử VinachemMart góp phần mở rộng kênh phân phối sản phẩm và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động thương mại của Vinachem

Song song với tự động hóa sản xuất, Vinachem cũng từng bước hình thành hệ sinh thái số phục vụ quản trị và kết nối thị trường.

Một trong những dấu ấn nổi bật là sàn thương mại điện tử VinachemMart. Sau một năm hoạt động, nền tảng này ghi nhận doanh thu đạt 51,5 tỷ đồng, hơn 52.040 tài khoản đăng ký và trên 25.000 đơn hàng giao thành công.

Được Tập đoàn tự thiết kế, xây dựng và trực tiếp vận hành theo đặc thù ngành hóa chất, VinachemMart không chỉ là kênh phân phối sản phẩm mà đang từng bước hình thành hệ sinh thái thương mại điện tử chuyên biệt cho ngành hóa chất Việt Nam. Nền tảng này góp phần kết nối doanh nghiệp, người tiêu dùng và dữ liệu thị trường trên cùng một hệ thống; đồng thời mở rộng không gian thị trường, nâng cao năng lực phục vụ khách hàng và thúc đẩy mô hình kinh doanh số trong doanh nghiệp công nghiệp.

Vinachem Nông nghiệp hướng tới kết nối tri thức, đồng hành cùng người nông dân trong sản xuất nông nghiệp xanh, hiện đại, bền vững

Vinachem Nông nghiệp hướng tới kết nối tri thức, đồng hành cùng người nông dân trong sản xuất nông nghiệp xanh, hiện đại, bền vững

Cùng với VinachemMart, nền tảng Vinachem Nông nghiệp tiếp tục mở rộng ý nghĩa của chuyển đổi số từ hoạt động thương mại sang phục vụ sản xuất nông nghiệp và cộng đồng.

Được xây dựng theo định hướng phi lợi nhuận, Vinachem Nông nghiệp hướng tới hỗ trợ người nông dân tiếp cận tri thức khoa học, kỹ thuật canh tác và thông tin nông nghiệp chính thống. Đây là không gian kết nối giữa nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, cơ quan báo chí và người nông dân nhằm chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, lan tỏa các giải pháp nông nghiệp hiệu quả, thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại và bền vững.

Việc Vinachem công bố đội ngũ chuyên gia đồng hành, ký kết chương trình phối hợp với các đơn vị thành viên giai đoạn 2026 - 2030 và hợp tác với Báo Nông nghiệp và Môi trường cho thấy nền tảng này đang được triển khai theo hướng kết nối tri thức, dữ liệu và thực tiễn sản xuất.

Không chỉ dừng ở quản trị số và sản xuất thông minh, quá trình chuyển đổi tại Vinachem còn gắn chặt với mục tiêu phát triển xanh và bền vững.

Tập đoàn đang nghiên cứu, áp dụng các giải pháp quản lý điện năng theo hướng tinh gọn, tiết kiệm; số hóa dữ liệu sử dụng điện năng; giám sát tập trung theo thời gian thực; tự động tổng hợp báo cáo và phân tích dữ liệu để hỗ trợ quản lý, điều hành, tối ưu chi phí vận hành và giảm phát thải CO₂.

Cùng với định hướng hóa học xanh, sản xuất sạch hơn, sử dụng năng lượng hiệu quả và công nghệ khép kín nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng và quản lý chất thải an toàn, quá trình chuyển đổi từ sản xuất hóa chất truyền thống sang công nghiệp hóa chất hiện đại, xanh và thông minh đang từng bước hiện rõ.

Từ những kết quả đó có thể thấy, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ tại Vinachem không dừng ở khẩu hiệu hay phong trào mang tính hình thức, mà đã tạo ra tác động trực tiếp đến năng suất lao động, hiệu quả quản trị, điều kiện làm việc và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thực tiễn này cũng là cơ sở thuyết phục để bác bỏ những quan điểm cho rằng doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới, khó thích ứng với công nghệ hiện đại hoặc công nghiệp hóa chất không thể phát triển theo hướng xanh và bền vững.

Những kết quả tại Vinachem cho thấy khi có chủ trương đúng, tổ chức thực hiện bài bản và gắn công nghệ với yêu cầu thực tiễn của sản xuất, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn có thể tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp và đóng góp vào mục tiêu phát triển nền công nghiệp hiện đại của đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng qua thực tiễn đổi mới tại Vinachem

Nhìn lại quá trình triển khai Nghị quyết 57 tại Vinachem có thể thấy một bài học xuyên suốt: mọi chuyển biến thực chất đều bắt đầu từ vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính sự lãnh đạo thống nhất đã tạo nên sự đồng thuận về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống; đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ định hướng chung trở thành nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong quản trị, sản xuất và phát triển của mỗi đơn vị.

Điều đó cũng cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không chỉ là bảo vệ trên phương diện lý luận, mà còn phải được khẳng định bằng hiệu quả phát triển thực tiễn; bằng năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả quản trị và năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Thực tiễn tại Vinachem cho thấy, khi có chủ trương đúng, quyết tâm chính trị cao và tổ chức thực hiện bài bản, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn có thể đổi mới mạnh mẽ, thích ứng với công nghệ hiện đại và tạo ra giá trị mới về năng suất, hiệu quả sản xuất, quản trị và trách nhiệm xã hội.

Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Lĩnh vực hoạt động của Vinachem rất rộng, từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất cơ bản, điện hóa, cao su đến khai khoáng. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đòi hỏi lộ trình phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực và từng đơn vị.

Hiện nay, một số đơn vị vẫn còn dây chuyền, thiết bị cũ, tiêu hao nhiều năng lượng, năng suất và chất lượng chưa cao; quy trình sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công. Một số đơn vị đang thực hiện di dời nhà máy nên tiến độ triển khai các chương trình khoa học công nghệ và chuyển đổi số còn phụ thuộc vào điều kiện ổn định sản xuất. Bên cạnh đó, nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ còn hạn chế; thủ tục giao và triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ vẫn cần thêm thời gian để hoàn thiện.

Tuy nhiên, chính việc nhận diện rõ những khó khăn đó càng cho thấy ý nghĩa của những kết quả Vinachem đã đạt được trong quá trình triển khai Nghị quyết 57. Từ các chương trình hợp tác nghiên cứu với viện, trường; định hướng xây dựng hệ thống R&D; nghiên cứu khả năng tham gia chuỗi giá trị bán dẫn; đến việc hình thành hệ sinh thái số, ban hành kế hoạch chuyển đổi số toàn diện và đưa robot vào vận hành tại Lixco, DRC, DAP 2… tất cả cho thấy Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực trong cả nghiên cứu, quản trị và sản xuất.

Những kết quả bước đầu đó là minh chứng có sức thuyết phục cho tính đúng đắn trong đường lối của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Quan trọng hơn, thực tiễn ấy cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là khái niệm trừu tượng, mà phải được thể hiện bằng thành tựu phát triển cụ thể; bằng hiệu quả sản xuất kinh doanh; bằng năng lực tự chủ công nghệ… Từ những chuyển động và kết quả đạt được, có cơ sở để kỳ vọng Vinachem sẽ không chỉ giữ vai trò doanh nghiệp trụ cột của ngành Hóa chất Việt Nam, mà còn từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo công nghiệp quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền công nghiệp Việt Nam tự chủ, hiện đại, xanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

Nguyệt Anh

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/dua-nghi-quyet-57-vao-san-xuat--quan-tri-tai-tap-doan-hoa-chat-viet-nam--minh-chung-thuc-tien-cho-duong-loi-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-cua-dang-520528.htm