Đưa Nghị quyết 57 vào thực tiễn: Từ số hóa đến làm chủ công nghệ trong vận hành lưới điện
Ngành Điện đang từng bước chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ, lấy dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao năng lực quản trị, vận hành hệ thống.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngành Điện đang từng bước chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ, lấy dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao năng lực quản trị, vận hành hệ thống. Tại Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVNHANOI), quá trình này được cụ thể hóa từ các trung tâm điều khiển, hệ thống lưới điện thông minh đến từng ca trực của người công nhân, qua đó góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Ngành Điện đang từng bước chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ, lấy dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao năng lực quản trị, vận hành hệ thống. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN
*Công nghệ trở thành động lực nâng cao năng lực vận hành
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Một trong những yêu cầu đặt ra là phải đổi mới tư duy, phương thức quản lý, phát huy nguồn lực con người và đưa thành tựu khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Đối với ngành điện, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi điện là ngành hạ tầng thiết yếu, liên quan trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng, phụ tải biến động phức tạp, cùng với sự phát triển của điện mặt trời mái nhà, nguồn điện phân tán, hệ thống lưu trữ năng lượng, xe điện và trạm sạc.
Những thay đổi đó đòi hỏi hệ thống điện phải ngày càng thông minh, linh hoạt, có khả năng giám sát, dự báo và xử lý tình huống nhanh hơn.
Tại Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVNHANOI), chuyển đổi số đang được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ quản lý vận hành, điều khiển lưới điện đến kinh doanh và dịch vụ khách hàng.
Các hệ thống SCADA/DMS, công tơ điện tử, đo xa, thiết bị đóng cắt điều khiển từ xa và các nền tảng quản lý dữ liệu đang từng bước hình thành phương thức vận hành mới.
Nếu trước đây người vận hành phải dựa nhiều vào kiểm tra trực tiếp và xử lý thông tin theo từng khâu thì hiện nay, nhiều thông số của hệ thống được thu thập, truyền về và giám sát liên tục.
Từ nguồn dữ liệu này, người vận hành có thể nhanh chóng xác định khu vực xảy ra bất thường, khoanh vùng sự cố và lựa chọn phương án xử lý phù hợp.
Với một đô thị có mật độ phụ tải cao như Hà Nội, việc rút ngắn thời gian nhận diện và xử lý bất thường có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định.
Theo cách tiếp cận này, chuyển đổi số không chỉ là đưa quy trình từ giấy lên môi trường điện tử mà sâu hơn là thay đổi phương thức quản trị, vận hành dựa trên dữ liệu. Công nghệ phải giải quyết được những bài toán cụ thể của sản xuất, giúp giảm thời gian thao tác, nâng cao năng suất lao động, tăng độ tin cậy cung cấp điện và hỗ trợ người lao động xử lý công việc an toàn hơn. Đây cũng chính là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
*Từ dữ liệu đến người công nhân: Con người vẫn là trung tâm
Đằng sau những hệ thống công nghệ hiện đại vẫn là đội ngũ trực tiếp vận hành hệ thống điện. Quá trình chuyển đổi số vì thế đang tạo ra những thay đổi rõ rệt trong công việc của người công nhân.
Người công nhân ngành điện hiện nay không chỉ cần nắm vững thiết bị và quy trình kỹ thuật mà ngày càng phải làm quen với các phần mềm quản lý, hệ thống giám sát, thiết bị điều khiển từ xa và dữ liệu vận hành.

Công nghệ giúp người trực có thêm công cụ để theo dõi tình trạng hệ thống và xử lý công việc. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN
Chia sẻ về sự thay đổi này, anh Nguyễn Hoàng Nam, công nhân trực vận hành tại Tram biến áp 110 KV Mỹ Đình, cho biết công nghệ giúp người trực có thêm công cụ để theo dõi tình trạng hệ thống và xử lý công việc.
Theo anh Nam, trước đây khi phát sinh bất thường, người vận hành phải mất nhiều thời gian để kiểm tra, xác định thông tin từ nhiều nguồn. Hiện nay, các thông số được cập nhật trên hệ thống giúp việc nhận diện tình trạng thiết bị nhanh hơn.
“Công nghệ giúp người trực vận hành có thêm thông tin để xử lý công việc. Tuy nhiên, hệ thống chỉ đưa ra cảnh báo, còn người vận hành phải đánh giá tình huống, kiểm tra thực tế và quyết định phương án xử lý theo đúng quy trình. Vì vậy, càng ứng dụng công nghệ thì người lao động càng phải nâng cao trình độ”, anh Nam chia sẻ.
Từ góc độ người lao động, chuyển đổi số không đồng nghĩa với việc công nghệ thay thế con người. Ngược lại, công nghệ đang giúp người công nhân giảm bớt những thao tác thủ công, có thêm thông tin và tập trung nhiều hơn vào những công việc đòi hỏi chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng xử lý tình huống.
Đây cũng là lý do phát triển nguồn nhân lực trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình chuyển đổi số.
Bà Nguyễn Ái Liên – Phó Trưởng Ban Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số EVNHANOI, chuyên gia công nghệ thông tin cho rằng, thách thức lớn của chuyển đổi số không nằm ở việc doanh nghiệp đầu tư bao nhiêu phần mềm hay thiết bị, mà ở khả năng kết nối dữ liệu, tổ chức dữ liệu và biến dữ liệu thành thông tin phục vụ quyết định.
“Có dữ liệu nhưng dữ liệu không được chuẩn hóa, không kết nối và không khai thác được thì giá trị tạo ra sẽ rất hạn chế. Với EVNHANOI, dữ liệu phải được sử dụng để dự báo, phân tích, phát hiện bất thường và hỗ trợ người vận hành ra quyết định”, Bà Liên nhận định.
Theo bà Liên, trí tuệ nhân tạo (AI), Big Data (dữ liệu lớn) và IoT (Internet vạn vật), có thể mở ra khả năng xử lý một khối lượng dữ liệu rất lớn, qua đó hỗ trợ dự báo phụ tải, phát hiện nguy cơ bất thường, phân tích tình trạng thiết bị và tối ưu hóa vận hành. Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người trong những quyết định quan trọng.
“Người làm công nghệ cần hiểu bài toán của ngành Điện, trong khi cán bộ kỹ thuật cũng phải có khả năng tiếp cận dữ liệu và công nghệ mới. Đây là yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay”, bà Liên cho biết.
Sự giao thoa giữa chuyên môn và công nghệ đang hình thành một thế hệ nhân lực mới. Người kỹ sư cần hiểu dữ liệu; người công nhân cần sử dụng thành thạo các nền tảng số; trong khi đội ngũ công nghệ thông tin phải hiểu sâu hơn về nghiệp vụ điện lực. Đó chính là nền tảng để công nghệ thực sự đi vào sản xuất.
*Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ
Một bước phát triển cao hơn của chuyển đổi số là từng bước làm chủ công nghệ. Đối với ngành điện, làm chủ công nghệ không nhất thiết có nghĩa phải tự phát triển tất cả công nghệ từ đầu, mà quan trọng là có năng lực nghiên cứu, tích hợp, vận hành, cải tiến và từng bước phát triển các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.
Trong những năm tới, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, Digital Twin, robot, thiết bị bay không người lái, tự động hóa, hệ thống lưu trữ năng lượng BESS và các nền tảng điều khiển thông minh được dự báo tiếp tục đóng vai trò ngày càng lớn. Khi đó, yêu cầu đối với nguồn nhân lực cũng thay đổi theo.
Người công nhân trực vận hành không chỉ thực hiện thao tác mà cần hiểu các thông số trên hệ thống giám sát. Kỹ sư vận hành không chỉ nắm thiết bị mà phải biết phân tích dữ liệu. Đội ngũ công nghệ thông tin không chỉ phát triển phần mềm mà phải hiểu sâu các quy trình nghiệp vụ.
Quá trình này đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm hơn đến đào tạo lại, đào tạo nâng cao và hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ cao.

Đội ngũ công nghệ thông tin không chỉ phát triển phần mềm mà phải hiểu sâu các quy trình nghiệp vụ. Ảnh: TTXVN
Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo cần được thúc đẩy từ chính cơ sở. Một sáng kiến giúp giảm một bước thao tác; một giải pháp giúp rút ngắn thời gian xử lý; một công cụ hỗ trợ cảnh báo sớm; hay một phương thức quản lý dữ liệu hiệu quả hơn đều có thể tạo ra giá trị nếu được đánh giá, chuẩn hóa và nhân rộng.
Người trực tiếp làm việc với thiết bị thường là người hiểu rõ nhất những bất cập của quy trình. Vì vậy, việc tạo cơ chế để người lao động đề xuất sáng kiến, thử nghiệm giải pháp mới và phản hồi về hiệu quả công nghệ là rất cần thiết. Đây cũng là cách xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.
Về lâu dài, mục tiêu không chỉ là xây dựng một hệ thống điện được số hóa mà hướng tới hệ sinh thái điện thông minh, trong đó thiết bị, dữ liệu và con người được kết nối.
Khi đó, dữ liệu từ thiết bị có thể phục vụ dự báo; kết quả phân tích có thể hỗ trợ người vận hành; công nghệ tự động hóa có thể giảm những thao tác thủ công; còn người lao động tập trung vào những công việc đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng xử lý tình huống.
Đối với EVNHANOI, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi nhu cầu điện ngày càng tăng và hệ thống phụ tải ngày càng đa dạng.
Một hệ thống điện thông minh sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong dự báo, điều hành và xử lý sự cố; đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, sử dụng hiệu quả nguồn lực và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Từ góc độ này, đưa Nghị quyết 57-NQ/TW vào ngành điện không phải là câu chuyện xa vời mà được thể hiện ngay trong từng thiết bị, từng phần mềm, từng quy trình và từng ca trực.
Công nghệ có thể cung cấp dữ liệu, cảnh báo và công cụ hỗ trợ; nhưng người công nhân vẫn là người trực tiếp kiểm tra, đánh giá và thực hiện các thao tác trên hệ thống.
Vì vậy, lấy con người làm trung tâm, khoa học và công nghệ làm động lực, đổi mới sáng tạo làm phương thức và chuyển đổi số làm nền tảng chính là hướng đi để ngành điện nâng cao năng lực vận hành, từng bước làm chủ công nghệ và đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.
Từ những thay đổi trong từng ca trực đến việc hình thành một hệ sinh thái điện thông minh, mỗi bước tiến đều góp phần cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, hướng tới một ngành điện hiện đại, an toàn, linh hoạt và chủ động hơn.
