Đưa văn hóa thành động lực tăng trưởng bứt phá

Từ một lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác tương xứng, công nghiệp văn hóa (CNVH) đang đứng trước yêu cầu trở thành một ngành kinh tế có sức lan tỏa. Dự án Luật Phát triển CNVH trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai sắp tới hướng tới mục tiêu xác lập địa vị pháp lý chính thức cho lĩnh vực này, khơi thông nguồn lực sáng tạo, kết nối chuỗi giá trị và tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.

Xác định địa vị pháp lý chính thức cho ngành CNVN, tạo đòn bẩy đưa lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng bứt phá. Ảnh: mst.gov.vn

Xác định địa vị pháp lý chính thức cho ngành CNVN, tạo đòn bẩy đưa lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng bứt phá. Ảnh: mst.gov.vn

Lực cản từ “khoảng trống” pháp lý

Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển CNVN. Nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, bản sắc đa dạng, lực lượng sáng tạo ngày càng lớn, thị trường trong nước rộng và sự phát triển nhanh của công nghệ số đang mở ra những phương thức mới để sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh khẳng định: Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi để bứt phá trở thành trung tâm CNVH năng động của khu vực.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, sự phát triển của các ngành CNVH thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân căn bản là do hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu được thiết kế theo từng lĩnh vực chuyên ngành, trong khi CNVH lại vận hành theo một chuỗi giá trị liên thông từ sáng tạo, sản xuất, quảng bá, phân phối đến tiêu dùng.

PGS,TS. Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam - chỉ rõ, Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu doanh thu của các ngành CNVH đóng góp 7% GDP. Tuy nhiên, sau gần 8 năm thực hiện Chiến lược, CNVH vẫn thiếu chính sách pháp luật, tạo hành lang pháp lý để phát triển lĩnh vực mới, đầy tiềm năng này.

“Khoảng trống” này khiến nhiều nguồn lực chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị kinh tế. Những sản phẩm chứa đựng hàm lượng sáng tạo và bản sắc văn hóa có thể trở thành tài sản, hàng hóa, dịch vụ và thương hiệu, nhưng cơ chế để nhận diện, định giá, giao dịch, khai thác và bảo vệ các giá trị đó vẫn còn những điểm chưa rõ.

Đơn cử, nguồn lực cho phát triển CNVH hiện chủ yếu được huy động từ ngân sách nhà nước, vốn của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư mang tính thống nhất, phù hợp với đặc thù của CNVH. Việc đầu tư vào CNVH thường gắn với tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và công nghệ, có mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài và khó xác định giá trị tài sản bảo đảm. Do đó, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo còn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng, vốn đầu tư...

Đáng chú ý, sự phát triển của môi trường số đang làm thay đổi căn bản phương thức vận hành của CNVH. Một sản phẩm âm nhạc, bộ phim, trò chơi, thiết kế, nội dung số hay một sáng tạo nghệ thuật có thể nhanh chóng vượt qua biên giới địa lý để tiếp cận thị trường toàn cầu. Đi cùng với cơ hội là sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với các chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là sự xuất hiện của các nền tảng số xuyên biên giới.

Theo Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, CNVH được xác định gồm 10 lĩnh vực: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản. Đến năm 2030, các ngành CNVH đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và đóng góp 7% GDP của đất nước. Đến năm 2045, phấn đấu các ngành CNVH Việt Nam phát triển bền vững, doanh thu đóng góp 9% GDP của đất nước.

Hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Thực trạng trên cho thấy, Việt Nam cần một hành lang pháp lý đủ mạnh để vừa tạo điều kiện cho sáng tạo, sản xuất và kinh doanh sản phẩm văn hóa, vừa bảo vệ các nhà sản xuất nội dung trong nước, thúc đẩy phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa; tạo đòn bẩy đưa CNVH trở thành động lực tăng trưởng bứt phá.

Một trong những điểm đáng chú ý của Dự án Luật Phát triển CNVH là xác định địa vị pháp lý cho các ngành CNVH trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam. Tờ trình của Chính phủ xác định rõ cách tiếp cận CNVH như một chuỗi giá trị, nhằm thúc đẩy phát triển từ góc độ một ngành kinh tế chiến lược, từ đó, các chính sách hướng đến lấp khoảng trống pháp lý và lựa chọn những điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Theo đó, Dự thảo Luật tập trung vào các nhóm chính sách lớn: Phát triển hệ sinh thái CNVH; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Trong đó, phát triển hệ sinh thái CNVH là nền tảng. Dự thảo hướng tới xử lý tình trạng thiếu kết nối, chia sẻ thông tin và liên kết chuỗi giá trị; đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp về quản trị, chuyển đổi số, thương hiệu, định giá tài sản trí tuệ, xúc tiến xuất khẩu và liên kết văn hóa với du lịch, y tế.

Một điểm mới là Chính phủ đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh CNVH mới, nhằm tiếp cận phù hợp với đặc điểm của kinh tế sáng tạo.

Đồng thời, Dự thảo đề xuất cơ chế hỗ trợ đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài CNVH; các giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong huy động nguồn lực, thủ tục đầu tư phát triển hạ tầng văn hóa, bảo đảm sử dụng hiệu quả tài sản công; các cơ chế ưu đãi của Nhà nước…

Thị trường CNVH được xem là mắt xích quyết định khả năng chuyển hóa sáng tạo thành tăng trưởng. Dự thảo đề cập đến sản phẩm CNVH có bản sắc Việt Nam, tác phẩm gốc trọng điểm, sản phẩm CNVH trọng điểm, hỗ trợ nâng cao năng lực doanh nghiệp, phát triển sàn giao dịch CNVH, thẻ văn hóa quốc gia và hỗ trợ xúc tiến thị trường nước ngoài…

Đặc biệt, Dự án Luật đặt ra vấn đề về “tài sản trí tuệ” trong các ngành CNVH. Đây là một trong những nội dung có thể tạo ra sự thay đổi đáng kể nếu được thiết kế khả thi; bởi sản phẩm sáng tạo chỉ thực sự trở thành nguồn lực kinh tế khi quyền đối với sản phẩm đó có thể được xác lập, bảo hộ, định giá và khai thác.

Các chuyên gia đánh giá, việc xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng đến tái đầu tư là hướng tiếp cận phù hợp để liên kết chính sách văn hóa với chính sách thị trường, đầu tư, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, đây là Dự án Luật mới, xác lập nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, vì vậy, cần tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đánh giá cụ thể hơn tác động và tính khả thi của các chính sách mới, nhằm tạo lập không gian cho sáng tạo nhưng đồng thời bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như giữ được bản sắc, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng…/.

Đ. KHOA

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/dua-van-hoa-thanh-dong-luc-tang-truong-but-pha