Đưa vật liệu thay thế nhựa vào thị trường

Từ tinh bột sắn, hạt bơ, rong sụn đến vỏ trấu, nhiều phụ phẩm trong nước đang được nghiên cứu để làm màng, hạt nhựa và bao bì sinh học. Một số sản phẩm đã vượt khỏi phòng thí nghiệm, nhưng để sản xuất ở quy mô lớn vẫn cần tiêu chuẩn rõ, giá thành phù hợp và thị trường đầu ra.

Hoạt động nghiên cứu, phát triển vật liệu sinh học. (Ảnh: BUYO Bioplastics)

Hoạt động nghiên cứu, phát triển vật liệu sinh học. (Ảnh: BUYO Bioplastics)

Từ phụ phẩm đến vật liệu mới

Mỗi năm, Việt Nam phát sinh hơn 45 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, bã mía, xơ dừa, vỏ cà-phê… Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Kim Chi cùng các cộng sự tại Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã chế tạo màng nhựa phân hủy sinh học từ tinh bột sắn. Nhóm phối trộn tinh bột nhiệt dẻo biến tính với nhựa PBAT và PLA để sản xuất màng. Màng có độ bền kéo 17,4 MPa, độ giãn dài 220%. Trong điều kiện ủ phân hữu cơ có kiểm soát, vật liệu phân rã 96% sau 53 ngày.

Từ hạt bơ Booth và bã sắn, nhóm sinh viên Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã chế tạo màng sinh học dùng trong bao bì và nông nghiệp. Tinh bột chiết xuất từ hạt bơ được kết hợp với cellulose từ bã sắn để gia cường cho nền vật liệu. Kết quả ban đầu cho thấy màng có khả năng phân hủy sinh học và độ bền kéo khá tốt. Nhóm đang tiếp tục hoàn thiện sản phẩm để mở rộng khả năng ứng dụng.

Sinh khối biển cũng được nghiên cứu để sản xuất vật liệu sinh học. Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 3 vừa qua đã nghiệm thu nhiệm vụ chế tạo màng bioplastic từ rong sụn Ninh Thuận. Nhóm nghiên cứu tạo được màng trong suốt, có khả năng phân hủy sinh học và kháng nước, dự kiến phối hợp doanh nghiệp đánh giá thực tế, tiến tới mở rộng quy mô.

Các công nghệ trên có phạm vi sử dụng khác nhau. Bà Đỗ Hồng Hạnh, Giám đốc Công ty Giải pháp công nghệ BUYO (BUYO Bioplastics) cho rằng, vật liệu có nguồn gốc sinh học nên ưu tiên cho sản phẩm mỏng, nhẹ, khó thu gom, có lượng sử dụng lớn hoặc cần độ an toàn cao khi tiếp xúc thực phẩm. Nhựa tái chế phù hợp hơn với sản phẩm dùng nhiều lần, đòi hỏi cơ tính cao và đã có hệ thống thu hồi. Phân định đúng phạm vi ứng dụng sẽ tránh coi một vật liệu mới là lời giải cho mọi loại rác thải nhựa.

Bên cạnh phạm vi ứng dụng, giá thành vẫn là trở ngại lớn đối với vật liệu xanh. Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho rằng, doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu, thiết bị, thử nghiệm và chứng nhận, trong lúc sản xuất ở quy mô nhỏ khiến giá thành khó cạnh tranh. Hiệu quả của vật liệu cũng cần được đánh giá trong toàn bộ vòng đời, từ nguyên liệu, sản xuất, sử dụng đến xử lý sau thải bỏ, tránh chuyển sức ép môi trường từ khâu này sang khâu khác.

Tiêu chuẩn và thị trường

Không phải loại vật liệu có nguồn gốc sinh học nào cũng phân hủy hoàn toàn trong mọi môi trường. Cần phân biệt sản phẩm phải ủ công nghiệp, sản phẩm có thể phân hủy trong điều kiện tự nhiên và vật liệu chỉ chứa một phần nguyên liệu sinh học, đồng thời làm rõ thời gian phân hủy, độ an toàn, nguy cơ vi nhựa và phương thức xử lý.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Liễu, Phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, cần xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia để kiểm soát chất lượng vật liệu tái chế, nâng dần tỷ lệ thu gom, tái chế bắt buộc đối với bao bì nhựa, khuyến khích thiết kế sinh thái, bao bì dùng nhiều lần và dễ tái chế. Tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố dự kiến khảo sát các cơ sở sản xuất, tái chế nhựa để đánh giá nhu cầu nguyên liệu, công nghệ và tác động môi trường. Kết quả khảo sát sẽ giúp xác định cơ hội cải tiến công nghệ, thúc đẩy sản phẩm có nguồn gốc sinh học. Hà Nội cũng kiến nghị sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia đối với vật liệu thay thế.

Cần xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia để kiểm soát chất lượng vật liệu tái chế, nâng dần tỷ lệ thu gom, tái chế bắt buộc đối với bao bì nhựa, khuyến khích thiết kế sinh thái, bao bì dùng nhiều lần và dễ tái chế.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Liễu, Phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Sản phẩm còn phải được thử nghiệm trong thực tế và có khách hàng tiêu dùng. Cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện, khách sạn và khu du lịch có thể đặt hàng một số sản phẩm thay thế nhựa dùng một lần. Việc lựa chọn cần tính đến độ an toàn, khả năng thu hồi, chi phí xử lý và tác động trong toàn bộ vòng đời, thay vì chỉ so sánh giá mua. Có thể kể đến việc Saigon Co.op chuyển sang túi tự hủy sinh học có chứng nhận môi trường từ năm 2012, năm 2019 ngừng kinh doanh ống hút nhựa và giảm dần chén, đĩa nhựa dùng một lần. Nhiều chuyên gia nhận định, các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về môi trường và truy xuất nguồn gốc nhưng vẫn khó tiếp cận hệ thống phân phối do chi phí cao, cạnh tranh lớn và thương hiệu còn hạn chế. Nhà bán lẻ cần tạo cơ hội để sản phẩm đạt tiêu chuẩn tiếp cận người tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ nhà cung cấp cải tiến quy trình.

Cùng với việc mở rộng thị trường, các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Chương trình Đổi mới sáng tạo về nhựa năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức đã tiếp nhận 116 đề xuất, lựa chọn 25 đội tham gia ươm tạo chuyên sâu.

Techmart Công nghệ xanh và Tuần hoàn năm 2026 tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 5 vừa qua cũng có 50 gian hàng, giới thiệu vật liệu xanh và kết nối cung cầu công nghệ. Du lịch là một trong những lĩnh vực có nhu cầu thử nghiệm sản phẩm thay thế khá rõ. Nghiên cứu do UNDP phối hợp Cục Du lịch quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện cho thấy, 95% số doanh nghiệp du lịch được khảo sát tại Ninh Bình và 81,6% tại Đà Nẵng vẫn cung cấp sản phẩm nhựa dùng một lần cho du khách. Vì vậy, các cơ sở lưu trú và điểm đến có thể trở thành nơi thử nghiệm, từng bước tạo đầu ra cho sản phẩm thay thế theo lộ trình phù hợp.

HIỆP ĐỨC

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dua-vat-lieu-thay-the-nhua-vao-thi-truong-post989703.html