Đừng để nghĩa trang làng bị bỏ lại phía sau đô thị hóa

Đô thị hóa đang làm thay đổi diện mạo nhiều vùng nông thôn và ven đô, nhưng có một nơi ít được quan tâm tương xứng: nghĩa trang làng - nơi ông bà, cha mẹ và nhiều thế hệ người dân đang yên nghỉ.

Ở nông thôn Việt Nam, nghĩa trang làng đã có từ lâu và gắn với đời sống của mỗi cộng đồng dân cư. Ở đó có phần mộ của nhiều thế hệ, của các gia đình, dòng họ. Ngày Tết, ngày giỗ, tiết Thanh minh, con cháu lại ra thắp hương. Việc ấy đã thành một phần trong đời sống của làng quê.

Đô thị hóa ngày càng phát triển, nhưng nghĩa trang làng – nơi nhiều thế hệ an nghỉ ở một số nơi vẫn chưa được quan tâm tương xứng. (Ảnh Văn Nhất).

Đô thị hóa ngày càng phát triển, nhưng nghĩa trang làng – nơi nhiều thế hệ an nghỉ ở một số nơi vẫn chưa được quan tâm tương xứng. (Ảnh Văn Nhất).

Những năm gần đây, về nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng ven đô, có thể thấy sự thay đổi rất nhanh. Nhiều nơi trước đây là đồng ruộng, làng xóm, nay đã trở thành khu đô thị. Nhưng nghĩa trang của chính những làng ấy thì nhiều nơi vẫn gần như cũ. 

Mộ ngày càng nhiều, xây chen chúc, lối đi hẹp, có chỗ gần như không còn đường vào. Cây xanh, thoát nước, vệ sinh môi trường cũng chưa được quan tâm. Đã đến lúc cần quan tâm nhiều hơn đến việc này.

Từ những ngôi mộ rải rác đến nghĩa trang chung của làng

Tình trạng các nghĩa trang hiện nay có nguyên nhân từ lịch sử. Trước đây, ở nhiều vùng quê, người mất thường được gia đình, dòng họ chôn cất trên đất của mình hoặc tại các gò, bãi ngoài đồng. Mồ mả vì thế nằm rải rác, không tập trung như sau này.

Nhiều nghĩa trang nhân dân được hình thành từ rất lâu về trước, trong bối cảnh đất đai còn rộng, dân cư thưa và việc quy hoạch nghĩa trang chưa được đặt ra như hiện nay. (Ảnh Hà Thắng).

Nhiều nghĩa trang nhân dân được hình thành từ rất lâu về trước, trong bối cảnh đất đai còn rộng, dân cư thưa và việc quy hoạch nghĩa trang chưa được đặt ra như hiện nay. (Ảnh Hà Thắng).

Đến thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, nhất là từ những năm 1960, để thuận lợi cho sản xuất và quản lý đất đai, nhiều địa phương bố trí một khu đất chung làm nơi mai táng. Những ngôi mộ nằm rải rác ngoài đồng cũng dần được đưa về đó. Nghĩa trang nhân dân của nhiều làng, xã hình thành trong hoàn cảnh như vậy.

Lúc ấy đất còn rộng, dân số chưa đông, đời sống còn khó khăn. Chuyện quy hoạch nghĩa trang theo cách chúng ta hiểu ngày nay hầu như chưa được đặt ra.

Gia đình có người mất thì tự tìm vị trí để mai táng. Mộ xây lớn hay nhỏ, quay hướng nào, khoảng cách ra sao chủ yếu do từng nhà quyết định. Đường đi, cây xanh, thoát nước cũng ít được tính đến.

Ban đầu mộ còn ít nên chưa có vấn đề gì lớn. Nhưng năm này qua năm khác, mộ mới lại xen vào mộ cũ. Có nơi do quá trình quy tập trước đây còn hình thành những ngôi mộ chung, trong một mộ có hài cốt của nhiều người.

Qua vài chục năm, nghĩa trang cứ đầy dần lên. Có những nơi bây giờ muốn vào thăm một ngôi mộ cũng khó vì không còn lối đi.

Cũng không nên nhìn tình trạng này rồi trách người đi trước. Trong điều kiện lúc đó, việc đưa những ngôi mộ đang nằm phân tán ngoài đồng về một nơi tập trung là hợp lý. Chỉ có điều, sau hơn nửa thế kỷ, hoàn cảnh đã khác và cách quản lý cũng phải thay đổi.

Không thể chỉ giữ nghĩa trang trên bản đồ

Trong quy hoạch đô thị, các nghĩa trang hiện hữu thường được xác định ranh giới để giữ lại. Nhưng giữ được đất nghĩa trang mới chỉ là một việc.

Do lịch sử để lại, ở nhiều nơi, các ngôi mộ vẫn nằm rải rác, chưa được quy tập về những nghĩa trang được quy hoạch khang trang, sạch đẹp. (Ảnh Văn Nhất).

Do lịch sử để lại, ở nhiều nơi, các ngôi mộ vẫn nằm rải rác, chưa được quy tập về những nghĩa trang được quy hoạch khang trang, sạch đẹp. (Ảnh Văn Nhất).

Có những nơi xung quanh nghĩa trang đã thay đổi gần như hoàn toàn. Bên ngoài là đường mới, vỉa hè, cây xanh, hệ thống thoát nước, nhà cửa và khu đô thị khá đẹp. Nhưng bước vào bên trong nghĩa trang thì vẫn là cảnh mộ chen mộ, lối đi chật hẹp như nhiều năm trước.

Khi xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp và các dự án phát triển, một diện tích lớn đất đai của người dân được thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng. Sau khi đầu tư hạ tầng, quỹ đất đó tạo ra nguồn lực cho phát triển.

Trong nguồn lực ấy, cần tính một phần cho việc chỉnh trang các công trình và không gian của cộng đồng dân cư cũ, trong đó có nghĩa trang nhân dân.

Không cần nhiều so với tổng mức đầu tư của một khu đô thị. Nhưng nếu không đặt vấn đề ngay từ đầu thì sau này lại rất khó làm.

Nghĩa trang thương mại không thay thế được nghĩa trang làng

Hiện nay đã có nhiều công viên nghĩa trang được đầu tư khá tốt, quy hoạch bài bản, cảnh quan đẹp. Những nơi đó đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người dân.

Với người dân quê, nghĩa trang làng không chỉ là nơi an nghỉ mà còn là nơi gắn kết các thế hệ, nơi ông bà, cha mẹ và người thân được nằm gần nhau.

Với người dân quê, nghĩa trang làng không chỉ là nơi an nghỉ mà còn là nơi gắn kết các thế hệ, nơi ông bà, cha mẹ và người thân được nằm gần nhau.

Nhưng không phải gia đình nào cũng có điều kiện. Ở nông thôn còn nhiều gia đình có mức sống trung bình hoặc khó khăn. Chi phí mua một phần đất trong công viên nghĩa trang cao cấp có thể là khoản tiền lớn đối với họ.

Và thực ra không chỉ là chuyện tiền bạc. Người dân ở các làng quê thường muốn người thân được nằm gần nhau. Ông bà, cha mẹ đã nằm ở nghĩa trang làng thì nhiều người cũng mong sau này mình được trở về đó.

Ngày Tết, ngày giỗ, Thanh minh, con cháu về quê rồi ra nghĩa trang thắp hương. Một gia đình có thể đã chuyển lên thành phố sinh sống từ lâu nhưng mối liên hệ với quê hương nhiều khi vẫn còn ở những phần mộ của ông bà, tổ tiên.

Vì vậy, công viên nghĩa trang hiện đại có thể phát triển, nhưng nghĩa trang làng vẫn cần được quan tâm. Một gia đình chưa có điều kiện kinh tế cũng cần có một nơi an nghỉ đàng hoàng cho người thân.

Chỉnh trang nhưng phải hết sức thận trọng

Đối với những nghĩa trang được xác định giữ lại lâu dài, cần rà soát để xem từng nơi cần làm gì.

Không nhất thiết phải đầu tư lớn và càng không nên đặt ra mục tiêu làm cho thật đẹp. Nhiều nơi trước mắt chỉ cần có đường vào thuận tiện hơn, mở được một số lối đi giữa các khu mộ, cải thiện thoát nước, trồng thêm cây xanh, làm vệ sinh và có người quản lý.

Nghĩa trang đã quá chật cần được chỉnh trang thận trọng, bởi mỗi ngôi mộ gắn với tình cảm gia đình, dòng họ và có thể đã tồn tại hàng chục năm.

Nghĩa trang đã quá chật cần được chỉnh trang thận trọng, bởi mỗi ngôi mộ gắn với tình cảm gia đình, dòng họ và có thể đã tồn tại hàng chục năm.

Với những khu đã quá chật thì phải làm rất thận trọng. Mồ mả liên quan đến tình cảm của từng gia đình, từng dòng họ. Có những ngôi mộ đã ở đó mấy chục năm. Không thể chỉ vì muốn sắp xếp cho ngay hàng thẳng lối mà di chuyển, xáo trộn.

Chỗ nào làm được thì làm trước. Mở được lối đi nào thì mở. Khơi được thoát nước thì khơi. Có chỗ trồng cây thì trồng cây. Những việc liên quan trực tiếp đến phần mộ phải bàn kỹ với gia đình, dòng họ và người dân trong làng.

Còn đối với phần đất bố trí mộ mới thì từ nay cần quản lý chặt hơn. Kích thước mộ, khoảng cách, lối đi nên có quy định chung. Nơi có điều kiện có thể bố trí khu lưu giữ tro cốt, nhà quản trang và một số công trình cần thiết.

Nếu vẫn để từng gia đình tự xây theo ý mình thì vài chục năm nữa chúng ta lại gặp đúng những vấn đề hôm nay.

Nghĩa trang làng cũng là một không gian văn hóa - tâm linh

Qua hơn mười năm xây dựng nông thôn mới, diện mạo nhiều vùng quê đã khác trước rất nhiều. Đường làng, ngõ xóm sạch đẹp hơn; trường học, nhà văn hóa được đầu tư; cảnh quan và vệ sinh môi trường cũng tốt hơn.

Nhưng có nơi đi qua cổng nghĩa trang thì lại thấy một hình ảnh khác.

Đường làng bên ngoài đã bê tông sạch sẽ nhưng bên trong nghĩa trang không có lối đi. Nhà cửa trong làng ngày càng khang trang nhưng nơi ông bà, tổ tiên của chính những gia đình ấy đang nằm lại chật chội, ngập nước hoặc thiếu vệ sinh. Như vậy vẫn còn một việc chưa làm hết.

Ở những nơi có điều kiện, cần đưa việc chỉnh trang nghĩa trang nhân dân vào nội dung nâng cao chất lượng nông thôn mới. Đây không chỉ là việc quản lý nơi chôn cất mà còn là một phần của chỉnh trang không gian nông thôn, đô thị và đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư.

Cũng cần thay đổi cách nhìn đối với nghĩa trang làng. Đây không chỉ là nơi chôn cất người đã mất mà còn là một không gian văn hóa - tâm linh của cộng đồng, nơi lưu giữ ký ức của nhiều thế hệ và thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Mỗi dịp Tết đến, tiết Thanh minh hay ngày giỗ, nhiều gia đình, dòng họ lại cùng nhau ra nghĩa trang thắp hương, tưởng nhớ ông bà, tổ tiên. Đó là một nét sinh hoạt văn hóa đã gắn với đời sống làng quê từ nhiều đời nay.

Vì vậy, nghĩa trang làng cũng cần được quan tâm và đầu tư đúng mức như những không gian văn hóa khác của cộng đồng, để không chỉ là nơi yên nghỉ trang nghiêm của người đã khuất mà còn là nơi các thế hệ con cháu trở về, tưởng nhớ tổ tiên, gắn kết gia đình, dòng họ và quê hương.

Đầu tư ở đây không có nghĩa là xây dựng lớn hay tốn kém. Trước hết là làm cho nghĩa trang sạch sẽ, có đường đi, cây xanh, thoát nước, có trật tự và được quản lý nền nếp. Quan trọng là tình trạng phải tốt dần lên qua từng năm.

Khuyến khích hỏa táng để giảm sức ép về đất

Một vấn đề khác là đất. Hà Nội và nhiều đô thị lớn ngày càng thiếu đất. Nếu người mất chủ yếu vẫn được chôn cất và mỗi ngôi mộ sử dụng một diện tích đất lâu dài thì nghĩa trang sẽ tiếp tục phải mở rộng.

Vì vậy, chỉnh trang nghĩa trang cũ phải đi cùng với việc thay đổi dần phương thức mai táng. 

Khuyến khích hỏa táng là một trong những giải pháp giảm áp lực về quỹ đất nghĩa trang, phù hợp với xu hướng phát triển đô thị và nông thôn hiện nay.

Khuyến khích hỏa táng là một trong những giải pháp giảm áp lực về quỹ đất nghĩa trang, phù hợp với xu hướng phát triển đô thị và nông thôn hiện nay.

Hỏa táng cần tiếp tục được khuyến khích. Những nghĩa trang nằm trong khu vực đô thị hóa nhanh có thể từng bước hạn chế hung táng mới, tăng diện tích dành cho lưu giữ tro cốt.

Nhưng cũng cần làm sao để người dân thấy rằng hỏa táng không đồng nghĩa với việc người mất phải rời khỏi quê hương.

Tro cốt sau hỏa táng vẫn có thể đưa về nghĩa trang làng, đặt gần ông bà, cha mẹ. Nếu tổ chức một khu lưu giữ tro cốt trang nghiêm thì trên một diện tích không lớn có thể đáp ứng cho rất nhiều gia đình.

Như vậy vừa tiết kiệm đất, vừa phù hợp với mong muốn được trở về quê hương của nhiều người.

Cần một chương trình tổng thể cho nghĩa trang

Ở nhiều địa phương, đặc biệt là Hà Nội, có rất nhiều làng cổ, làng truyền thống và nhiều khu vực đang chuyển nhanh từ nông thôn sang đô thị. Nghĩa trang ở mỗi nơi lại có một hoàn cảnh khác nhau.

Tại các khu vực triển khai dự án đô thị lớn, cần gắn chỉnh trang nghĩa trang hiện hữu với đầu tư hạ tầng, dành một phần nguồn lực từ phát triển đất đai để chăm lo nơi an nghỉ của cộng đồng.

Tại các khu vực triển khai dự án đô thị lớn, cần gắn chỉnh trang nghĩa trang hiện hữu với đầu tư hạ tầng, dành một phần nguồn lực từ phát triển đất đai để chăm lo nơi an nghỉ của cộng đồng.

Có nơi đã tồn tại hàng trăm năm. Có nơi chủ yếu hình thành từ thời kỳ hợp tác hóa. Có nghĩa trang vẫn còn đất, nhưng cũng có nơi gần như không thể bố trí thêm một ngôi mộ.

Cần tổ chức rà soát để biết tình hình thực tế. Trên cơ sở đó tiến hành phân loại: nghĩa trang nào cần giữ lại lâu dài; nơi nào cần chỉnh trang; nơi nào hạn chế chôn cất mới; nơi nào chuyển dần sang lưu giữ tro cốt. Những nơi thực sự không thể giữ được thì mới tính đến việc di chuyển.

Mỗi nghĩa trang một hoàn cảnh, không nên đưa ra một mẫu rồi yêu cầu tất cả làm giống nhau.

Việc quản lý trực tiếp phải giao cho chính quyền cơ sở. Nhưng một xã, một phường khó có thể tự giải quyết hết những vấn đề đã tích tụ qua hàng chục năm. Chính quyền cấp trên cần có hướng dẫn, có cơ chế và có nguồn lực hỗ trợ.

Riêng những khu vực đang triển khai các dự án đô thị lớn, cần tính việc chỉnh trang nghĩa trang hiện hữu ngay trong quá trình đầu tư hạ tầng. Người dân đã dành đất cho đường sá, khu đô thị, khu công nghiệp và các công trình phát triển. Từ đất đai ấy cũng tạo ra nguồn lực lớn. Dành một phần nhỏ để chỉnh trang nghĩa trang của chính cộng đồng dân cư ở đó là việc nên làm.

Không nên để muộn hơn nữa

Nghĩa trang là việc nhạy cảm. Đụng đến mồ mả là đụng đến tình cảm của từng gia đình, dòng họ. Vì vậy phải làm từ từ, thận trọng và có sự đồng thuận của người dân.

Quan tâm đến nghĩa trang làng là thể hiện cách chúng ta ứng xử với quá khứ trong quá trình xây dựng một cuộc sống ngày càng văn minh hơn. (Ảnh Văn Nhất).

Quan tâm đến nghĩa trang làng là thể hiện cách chúng ta ứng xử với quá khứ trong quá trình xây dựng một cuộc sống ngày càng văn minh hơn. (Ảnh Văn Nhất).

Nhưng không thể vì khó mà để nguyên. Hơn nửa thế kỷ trước, trong lúc đất nước còn rất khó khăn, nhiều nơi đã đưa mồ mả nằm rải rác ngoài đồng vào nghĩa trang chung để lấy đất cho sản xuất. Thời ấy làm được một việc như vậy cũng không đơn giản.

Bây giờ điều kiện đã khác nhiều. Nông thôn đã đổi mới, đô thị đang mở rộng, đời sống người dân khá hơn và chúng ta cũng có điều kiện để làm tốt hơn trước.

Không cần biến nghĩa trang làng thành những công viên nghĩa trang lớn và tốn kém. Cũng không nên đặt vấn đề xóa bỏ những nghĩa trang đã gắn với làng quê qua nhiều thế hệ.

Những nghĩa trang còn đất thì quản lý việc xây mộ mới cho nền nếp. Những nơi đã chật thì từng bước chuyển sang hỏa táng và lưu giữ tro cốt. Đường đi, cây xanh, thoát nước, vệ sinh thì làm dần, tùy điều kiện từng nơi. Làm được như vậy đã là một thay đổi lớn.

Không chỉ Hà Nội mà nhiều địa phương đang có tốc độ đô thị hóa nhanh còn rất nhiều làng nằm trong hoặc xen giữa các khu vực đô thị. Nếu không tính việc chỉnh trang nghĩa trang từ bây giờ thì đến khi nhà cửa đã bao quanh, đất không còn, mộ đã quá dày, lúc đó muốn giải quyết sẽ khó hơn nhiều.

Chúng ta nói nhiều đến xây dựng đô thị văn minh và nông thôn mới. Trong công việc đó, nghĩa trang làng không thể tiếp tục bị bỏ lại phía sau.

Đó không chỉ là nơi an nghỉ của người đã khuất. Đó còn là một phần ký ức của mỗi gia đình, dòng họ và làng quê; là nơi con cháu tìm về với ông bà, tổ tiên mỗi dịp Tết đến, Thanh minh, ngày giỗ.

Quan tâm đến nghĩa trang làng cũng là thể hiện cách chúng ta ứng xử với quá khứ trong quá trình xây dựng một cuộc sống ngày càng văn minh hơn.

Trịnh Đình Dũng
Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/dung-de-nghia-trang-lang-bi-bo-lai-phia-sau-do-thi-hoa-192260810001426563.htm