Dựng hình tương lai (Bài 3): Tái cấu trúc trụ cột, gia tăng động lực trên 'đường băng'
Sau khi xác lập lại không gian phát triển và định vị những cực tăng trưởng mới, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa lần này không chỉ là câu chuyện sắp xếp lại địa giới phát triển hay mở rộng quỹ đất cho các dự án tương lai. Điều quan trọng hơn nằm ở việc tái cấu trúc các động lực tăng trưởng - những 'động cơ' quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của tỉnh trong giai đoạn tới. Nếu trước đây động lực phát triển chủ yếu dựa vào công nghiệp nặng, đầu tư công, tài nguyên và lợi thế lao động thì trong giai đoạn mới, động lực tăng trưởng được mở rộng sang các lĩnh vực dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực kết nối thị trường.

Nhà máy dinh dưỡng cây trồng Tiến Nông - Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông.
Nâng cấp các trụ cột truyền thống
Trong nhiều năm qua, công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp và du lịch đã trở thành ba trụ cột quan trọng, góp phần đưa Thanh Hóa vươn lên trở thành địa phương có quy mô kinh tế lớn nhất khu vực Bắc Trung bộ. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, các động lực tăng trưởng truyền thống cần được làm mới để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Điểm đáng chú ý trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh lần này là không thay thế các ngành kinh tế nền tảng mà tập trung nâng cấp, hiện đại hóa và gia tăng giá trị cho các trụ cột hiện hữu. Theo đó, nông nghiệp phát triển theo hướng đa giá trị, gắn sản xuất với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu; du lịch chuyển từ tăng trưởng về số lượng sang nâng cao chất lượng trải nghiệm và giá trị văn hóa.
Trong các trụ cột truyền thống, công nghiệp tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng chủ lực. Với hạt nhân là Khu Kinh tế (KKT) Nghi Sơn, Thanh Hóa định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu, ưu tiên công nghiệp xanh, công nghiệp số, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh các ngành nền tảng như năng lượng, lọc hóa dầu, luyện kim và cơ khí chế tạo, tỉnh tập trung thu hút các dự án có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Với lợi thế về hạ tầng, quỹ đất và nguồn nhân lực, Thanh Hóa hoàn toàn có khả năng trở thành một trong những cứ điểm sản xuất công nghiệp quan trọng của cả nước”.
Ở góc độ doanh nghiệp năng lượng quốc tế, ông Michael W. Savidge, Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Nhà máy Nhiệt điện BOT Nghi Sơn 2, cho rằng: Định hướng chuyển đổi xanh và giảm phát thải được đưa vào điều chỉnh Quy hoạch tỉnh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là lợi thế cạnh tranh mới trong thu hút đầu tư. Định hướng quy hoạch của tỉnh đang tạo động lực mạnh mẽ để các nhà đầu tư chuyển dịch khỏi các nguồn điện than truyền thống và ưu tiên các công nghệ năng lượng sạch hơn. Theo ông, việc Thanh Hóa đồng bộ với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) của Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các dự án năng lượng sạch, năng lượng chuyển tiếp và các nguồn vốn đầu tư chất lượng cao trong tương lai.
Việc nâng cấp toàn diện các trụ cột truyền thống được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng vững chắc để Thanh Hóa hình thành các động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Từ tăng trưởng theo quy mô đến phát triển dựa trên tri thức
Nếu việc nâng cấp các trụ cột truyền thống giúp củng cố nền tảng tăng trưởng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong điều chỉnh quy hoạch lần này trở thành những động lực mới của Thanh Hóa trong giai đoạn tới. Điều chỉnh quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số đóng góp khoảng 30% GRDP; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt từ 55% trở lên. Điều đó cho thấy tỉnh đang từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động sang phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.
Theo ông Trần Duy Bình, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa, “Nếu muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Thanh Hóa không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, tài nguyên hay nguồn lao động phổ thông. Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới phải từ ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của các nghị quyết chiến lược của Trung ương và của tỉnh, đặc biệt là Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.
Những năm gần đây, Thanh Hóa đã hình thành những nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi này. Chỉ số chuyển đổi số năm 2024 xếp thứ năm toàn quốc; kinh tế số đóng góp khoảng 10,74% GRDP; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bước đầu hình thành. Tuy nhiên, những con số đó vẫn chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của quy hoạch là phát triển KKT số và đổi mới sáng tạo Thanh Hóa tại khu vực đô thị Thanh Hóa và Lam Sơn - Sao Vàng, với quy mô khoảng 25.000 - 35.000ha. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành không gian phát triển mới cho các ngành công nghệ cao, dịch vụ số và kinh tế số, đồng thời tạo sức hút đối với các nhà đầu tư công nghệ trong và ngoài nước.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hồng Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam - Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông, cho rằng: “Khoa học công nghệ là con đường ngắn nhất để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và gia tăng sức cạnh tranh. Để biến chủ trương thành động lực tăng trưởng thực sự, Thanh Hóa cần tập trung phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp; đầu tư đồng bộ hạ tầng số và dữ liệu số; đồng thời có cơ chế mạnh mẽ khuyến khích nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu”.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Chí Thành, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế số trước hết phải gắn liền với phát triển nguồn nhân lực số. Việc hình thành KKT chuyên biệt về công nghệ sẽ tạo động lực mạnh mẽ để các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đổi mới chương trình đào tạo, gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động. Điều đáng chú ý là cùng với việc đào tạo nhân lực, Thanh Hóa đang từng bước hình thành mô hình liên kết “ba nhà” gồm Nhà nước – nhà trường – nhà doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hiện nay, Trường Đại học Hồng Đức đang xây dựng Đề án đào tạo nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Đây được xem là bước chuẩn bị quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế số và công nghệ cao của Thanh Hóa trong tương lai.
Logistics: Từ lợi thế địa lý thành lợi thế cạnh tranh
Nếu khoa học công nghệ tạo ra giá trị mới thì logistics chính là cầu nối đưa những giá trị đó đến với thị trường. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng diễn ra không chỉ giữa các doanh nghiệp mà còn giữa các địa phương và các chuỗi cung ứng, năng lực logistics đang trở thành một trong những thước đo quan trọng của sức cạnh tranh nền kinh tế.
Thanh Hóa là một trong số ít địa phương sở hữu đồng thời cảng biển nước sâu, sân bay, đường sắt quốc gia, cao tốc Bắc - Nam, cửa khẩu quốc tế và hệ thống giao thông liên vùng khá hoàn chỉnh. Đặc biệt, tỉnh nằm ở vị trí giao thoa giữa Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Hồng, khu vực Tây Bắc, Bắc Lào và hành lang kinh tế biển. Lợi thế đó đang tiếp tục được củng cố khi Quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Thanh Hóa thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt với mục tiêu đưa lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt từ 71,65 đến 86,15 triệu tấn mỗi năm vào năm 2030. Đây không chỉ là cơ sở để phát triển kinh tế biển, dịch vụ cảng biển và logistics mà còn tạo điều kiện để Thanh Hóa hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo của cả nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy chi phí logistics của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn vẫn còn ở mức cao; dịch vụ logistics chủ yếu tập trung vào vận tải và lưu kho; hệ thống trung tâm logistics, kho ngoại quan, kho lạnh và logistics số chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Điều này làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hạn chế khả năng tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhận diện rõ những điểm nghẽn đó, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh xác định logistics và dịch vụ cảng là một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Mục tiêu đặt ra không chỉ là phát triển dịch vụ vận tải hay kho bãi mà hướng tới hình thành hệ sinh thái logistics hiện đại, đồng bộ và có khả năng kết nối đa phương thức. KKT Nghi Sơn cùng hệ thống cảng biển được xác định là hạt nhân để phát triển trung tâm logistics của khu vực Bắc Trung bộ, kết nối hiệu quả giữa đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không.
Theo ông Hồ Văn Bắc, Tổng Giám đốc Công ty CP Hóa chất Ga Ma Thanh Hóa, lợi thế cảng biển, vị trí trung chuyển và hệ thống giao thông đa dạng của Thanh Hóa chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được kết nối bằng một hệ thống logistics hiện đại. Việc đầu tư đồng bộ các trung tâm logistics, kho bãi, hạ tầng vận tải đa phương thức và các nền tảng quản trị số không chỉ giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế địa phương.
Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tạo dựng những động lực tăng trưởng mới, giúp Thanh Hóa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế sẵn có. Với tầm nhìn dài hạn, tư duy đổi mới và quyết tâm hành động mạnh mẽ, đây sẽ là nền tảng quan trọng để tỉnh Thanh Hóa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 11% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng mới ở phía Bắc của Tổ quốc.












