Dùng tài sản trí tuệ thế chấp vay ngân hàng: Vì sao vẫn 'đóng băng'?
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) tổ chức họp bàn trao đổi về Cơ chế và thực tiễn dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay.
Nhận diện “điểm nghẽn”
Phát biểu khai mạc cuộc họp, ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ cho biết, trong nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Nghị quyết số 57-NQ/TW (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia), có một nhiệm vụ quan trọng là theo dõi và nâng cao chỉ số đơn sáng chế của người Việt Nam, với mục tiêu đạt từ 16-18%, đồng thời nâng tỷ lệ thương mại hóa sáng chế lên khoảng 8-10%. Đây là những chỉ số ở mức cao so với mặt bằng chung trên thế giới.
“Ngoài ra, gần đây chúng tôi được giao thêm một nhiệm vụ mới, đó là khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ nhằm phục vụ doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu thương mại hóa tài sản trí tuệ, thậm chí hình thành một lĩnh vực mới”, ông Lưu Hoàng Long chia sẻ.

Đại diện các bên trao đổi ý kiến tại cuộc họp
Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ chỉ ra rằng, dù Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự đều cho phép thế chấp quyền tài sản trí tuệ nhưng trên thực tế, hoạt động này gần như "đóng băng" hoặc chỉ phát sinh ở mức độ rất hạn chế.
Qua nghiên cứu sơ bộ, Cục Sở hữu trí tuệ nhận diện có 3 "điểm nghẽn" chính.
“Điểm nghẽn” lớn nhất là vấn đề định giá. Tài sản sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, giá trị phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường và sự thay đổi của công nghệ.
Trong khi đó, Việt Nam hiện còn thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp có đủ năng lực, thiếu cơ sở dữ liệu so sánh và chưa có hệ thống tiêu chuẩn định giá thống nhất được hệ thống ngân hàng chấp nhận. Điều này khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc xác định giá trị thực của tài sản, cũng như trong việc lượng hóa và quản trị rủi ro khi xem xét cho vay.
Điểm nghẽn thứ hai liên quan đến thanh khoản và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm. Khác với bất động sản, thị trường giao dịch thứ cấp đối với quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện gần như chưa hình thành, trong khi cơ chế chuyển giao quyền sở hữu khi xử lý nợ vẫn còn phức tạp, làm giảm khả năng thu hồi vốn của tổ chức tín dụng.
Điểm nghẽn thứ ba là các vấn đề liên quan đến cơ chế bảo đảm và khung pháp lý. Một mặt, rủi ro pháp lý vẫn hiện hữu do văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ hiệu lực trong thời gian thế chấp hoặc quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xâm phạm, dẫn đến tổn thất về kinh tế.
Mặt khác, sự liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, như Cục Sở hữu trí tuệ – nơi đăng ký, xác lập và duy trì quyền sở hữu trí tuệ – và Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp) hiện chưa được thiết lập đầy đủ, làm gia tăng rủi ro trong việc tra cứu, xác định tình trạng pháp lý của tài sản.
Bên cạnh đó, các công cụ phòng ngừa rủi ro còn thiếu, như chưa có sản phẩm bảo hiểm cho vay thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ, cũng như chưa có cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp cho loại hình tài sản đặc thù này.
Dưới góc độ ngân hàng, bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, các quy định hiện nay của pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn chung về thế chấp tài sản, chưa có những quy định áp dụng riêng đối với tài sản đặc thù là tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ.
Bên cạnh những khó khăn về công tác thẩm định, định giá tài sản bảo đảm, bà Nguyễn Thị Phương cũng chỉ ra rằng, tài sản trí tuệ tiềm ẩn nguy cơ cao phát sinh các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng; tài sản trí tuệ dễ bị sụt giảm giá trị do sự phát triển mạnh mẽ, thay đổi của công nghệ và chuyển đổi số; các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ làm giảm sút uy tín cũng như giá trị của tài sản trí tuệ đang được thế chấp.
Do đó, các ngân hàng gặp khó khăn và tiềm ẩn rủi ro cao trong quá trình quản lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ...
Đề xuất cơ chế thử nghiệm, khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ
Đề xuất giải pháp, ông Nguyễn Hoàng Giang cho rằng cần xem xét cơ chế phối hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý để bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ cho các bên liên quan, qua đó hỗ trợ kiểm soát rủi ro.
Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cũng đặt vấn đề về một cơ chế thử nghiệm, theo đó, cho phép một số ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có thế mạnh trong cho vay doanh nghiệp, được thí điểm cấp tín dụng có bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ với cơ chế trích lập dự phòng rủi ro linh hoạt hơn trong giai đoạn đầu.
Thay vì chờ quyền sở hữu trí tuệ đủ điều kiện thế chấp hoàn toàn, ngân hàng có thể cân nhắc chấp nhận quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản bảo đảm bổ sung, với tỷ lệ nhất định bên cạnh tài sản hữu hình, hoặc xem xét hình thức bảo đảm bằng quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ dòng tiền doanh thu của sản phẩm gắn với quyền sở hữu trí tuệ.
Đại diện CLB Pháp chế ngân hàng đưa ra 5 nhóm giải pháp chính để khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ.
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về nhận tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng khung pháp lý quy định cụ thể đối với tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ, thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ, trong đó, cần quy định cụ thể, rõ ràng.
Thứ hai, mở rộng danh mục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ nhằm gia tăng số lượng tài sản có thể nhận thế chấp và giao dịch và bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ đã đăng ký đúng quy định của pháp luật nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tài sản quyền sở hữu trí tuệ được thế chấp tại các TCTD.
Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin, thị trường giao dịch tài sản là quyền sở hữu trí tuệ để tăng minh bạch thông tin, hỗ trợ TCTD khi nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, thiết lập cơ chế riêng cho các công ty bảo hiểm chuyên về tài sản là quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ năm, triển khai thành công mô hình Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia theo quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó sẽ triển khai hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời thực hiện các biện pháp hỗ trợ như bảo lãnh, hỗ trợ lãi suất và tiếp nhận tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp này.











