E-magazine Khơi thông nguồn lực, phát triển con người, giữ gìn bản sắc

Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai trân trọng giới thiệu 3 nghị quyết này.

Việc ban hành Nghị quyết về phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công và kinh phí sự nghiệp năm 2026 để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) giai đoạn 2026-2035.

Trong đó, giai đoạn I triển khai từ năm 2026 đến năm 2030, tạo cơ sở để các cấp, ngành, địa phương sớm triển khai đồng bộ các chương trình, phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư và thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

Theo Nghị quyết, tổng nguồn vốn ngân sách phân bổ thực hiện các chương trình MTQG năm 2026 là hơn 884,6 tỷ đồng.

Trong đó, vốn đầu tư công hơn 630,1 tỷ đồng (gồm 325,28 tỷ đồng từ ngân sách trung ương và 304,907 tỷ đồng vốn đối ứng của tỉnh), ưu tiên đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, cơ sở giáo dục và các dự án phục vụ phát triển KT-XH. Kinh phí sự nghiệp được phân bổ hơn 254,4 tỷ đồng, gồm 113,11 tỷ đồng từ ngân sách trung ương và hơn 141,3 tỷ đồng vốn đối ứng của tỉnh.

Nghị quyết yêu cầu việc phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn vốn phải đúng mục tiêu, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo giữa các chương trình.

Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), khu vực biên giới và các xã, thôn đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình MTQG trên địa bàn tỉnh.

Ông Dương Mah Tiệp - Phó Chủ tịch UBND tỉnh: Tạo động lực phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh có quy mô trên 3,5 triệu dân; trong đó, gần 24% là đồng bào DTTS. Toàn tỉnh hiện còn 18.567 hộ nghèo, trong đó, hơn 81% là hộ đồng bào DTTS; có 93 xã vùng đồng bào DTTS và miền núi, gồm 73 xã khu vực III và 608 thôn đặc biệt khó khăn.

Đây là những địa bàn còn nhiều hạn chế về kết cấu hạ tầng, điều kiện phát triển sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư công giai đoạn 2026-2030 khoảng 6.885 tỷ đồng với 4.304 danh mục, ưu tiên giao thông, thủy lợi, nước sạch, trường học và các công trình thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống người dân.

Đối với công tác giảm nghèo, việc thông qua kế hoạch vốn là điều kiện tiên quyết để tỉnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Kế hoạch số 1925/QĐ-UBND của UBND tỉnh.

Giai đoạn 2026-2030, tỉnh phấn đấu duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều từ 1-1,5%/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân khoảng 0,8%/năm, đưa tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và miền núi xuống dưới 10%, đồng thời cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Việc thông qua kế hoạch vốn tạo điều kiện thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, trong đó nguồn lực đầu tư công đóng vai trò “vốn mồi”, huy động thêm nguồn lực xã hội cùng tham gia phát triển kinh tế địa phương.

Nguồn vốn sẽ ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội ở vùng đồng bào DTTS, miền núi.

Để nguồn vốn phát huy hiệu quả, UBND tỉnh sẽ tập trung đẩy nhanh phân bổ chi tiết, theo dõi sát tiến độ giải ngân, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện; tăng cường kiểm tra, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Quan điểm xuyên suốt là giải ngân nhanh nhưng phải đúng mục tiêu, đúng đối tượng, bảo đảm chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng vốn đã được giao nhưng chậm triển khai hoặc sử dụng kém hiệu quả.

Ông Võ Duy Tín - Chủ tịch UBND xã Ân Hảo: Tích hợp nguồn lực, phát triển nông thôn

Điểm mới của giai đoạn này là các chương trình MTQG được triển khai theo hướng tích hợp, tạo thuận lợi cho địa phương trong quản lý, điều hành và lồng ghép các nguồn lực.

Đối với nguồn vốn đầu tư công, xã Ân Hảo tập trung ưu tiên đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi, đồng thời lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn để triển khai các hạng mục cấp thiết, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng nông thôn, tạo nền tảng phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới vào năm 2028.

Bà Đặng Thị Hường - Trưởng thôn Lơ Ku (xã Kbang): Người dân đồng thuận vì lợi ích lâu dài

Làng Lơ Ku hiện có 523 hộ với 2.502 nhân khẩu. Những năm qua, hệ thống giao thông được đầu tư đã tạo thuận lợi cho người dân đi lại, vận chuyển và tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, nhiều tuyến đường bê tông hiện đã xuống cấp, gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa, nhất là vào mùa mưa.

Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên thường trú tại vùng đồng bào DTTS và miền núi trên địa bàn tỉnh là một trong những chính sách an sinh xã hội nổi bật được thực hiện từ năm học 2026-2027 với tổng kinh phí hỗ trợ dự kiến hơn 161 tỷ đồng/năm học.

Trong đó, hơn 66 tỷ đồng hỗ trợ tiền ăn trưa cho 46.034 trẻ mầm non; hơn 77 tỷ đồng hỗ trợ tiền ăn cho 28.603 học sinh phổ thông; gần 18 tỷ đồng hỗ trợ học sinh, sinh viên nội trú tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Theo Nghị quyết, trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo bán trú thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn và trẻ em người DTTS thuộc hộ nghèo, con gia đình chính sách, người có công, người khuyết tật hoặc không có nguồn nuôi dưỡng, thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào DTTS và miền núi sẽ được hỗ trợ 160 nghìn đồng/trẻ/tháng tiền ăn trưa, tối đa 9 tháng/năm học.

Đối với học sinh phổ thông là người DTTS thuộc hộ nghèo, thường trú tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, mức hỗ trợ tiền ăn trưa là 240 nghìn đồng/học sinh/tháng trong thời gian không quá 9 tháng/năm học, không bao gồm các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú.

Đáng chú ý, Nghị quyết bổ sung chính sách hỗ trợ tiền ăn 700 nghìn đồng/học sinh/tháng đối với học sinh bán trú là người DTTS thường trú tại xã khu vực II, khu vực I và các thôn vùng đồng bào DTTS, miền núi (thời gian hỗ trợ không quá 9 tháng/năm học, không bao gồm học sinh thuộc hộ nghèo).

Đây là nhóm đối tượng trước đây chưa được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ, trong khi điều kiện kinh tế của nhiều gia đình vẫn còn không ít khó khăn.

Đối với học sinh, sinh viên nội trú là người DTTS thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học cao đẳng nghề, trung cấp nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (không bao gồm học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh là người khuyết tật, học sinh tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú), Nghị quyết quy định hỗ trợ 1,9 triệu đồng/tháng tiền học bổng (không quá 10 tháng/năm học), 1 triệu đồng mua đồ dùng cá nhân một lần/khóa học và 200 nghìn đồng/năm tiền đi lại.

Ông Phạm Văn Nam - Giám đốc Sở GD&ĐT: Tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục

Gia Lai có đông đồng bào DTTS sinh sống, trong khi điều kiện KT-XH ở nhiều địa bàn miền núi còn khó khăn. Nhiều học sinh DTTS không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo nhưng hoàn cảnh vẫn rất khó khăn, có nguy cơ bỏ học hoặc đi học không chuyên cần. Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết là hết sức cần thiết.

Ông Đinh Văn Nghin - Chủ tịch UBND xã An Toàn:Chính sách nhân văn, sát thực tiễn

Xã An Toàn có hơn 95% dân số là đồng bào DTTS, chủ yếu là dân tộc Bahnar và H’re. Toàn xã hiện có khoảng 200 học sinh bậc mầm non và tiểu học, trong đó, học sinh DTTS chiếm khoảng 99%.

Những năm qua, các chính sách dân tộc đã góp phần cải thiện điều kiện học tập, song nhiều gia đình vẫn gặp khó khăn trong việc bảo đảm chi phí cho con em đến trường.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, Nghị quyết sẽ tạo thêm động lực để các địa phương duy trì kết quả phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo nền tảng phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS.

Bà Trần Thị Thúy An - Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Phan Bội Châu (xã Ia Tôr): Tiếp thêm động lực để học sinh đến trường

Năm học 2025-2026, Trường Tiểu học và THCS Phan Bội Châu có 750 học sinh, trong đó, 715 em là người DTTS, chiếm 95,3%. Những năm qua, học sinh của trường đã được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều em không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn, ảnh hưởng đến việc học tập và có nguy cơ bỏ học.

Vì vậy, việc HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết hỗ trợ trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên thường trú tại vùng đồng bào DTTS và miền núi là rất cần thiết, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục ở vùng khó khăn.

Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ khôi phục Không gian văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030 tập trung hỗ trợ làm mới, sửa chữa nhà rông truyền thống của các dân tộc Bahnar, Chăm, Jrai và nhà sàn cộng đồng truyền thống của dân tộc H’re tại các xã, phường thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi còn duy trì sinh hoạt văn hóa truyền thống tại nhà rông, nhà sàn cộng đồng.

Theo Nghị quyết, chính sách hỗ trợ bằng tiền được áp dụng đối với công trình làm mới và sửa chữa nhà rông, nhà sàn cộng đồng truyền thống. Đối với công trình làm mới, mỗi năm, tỉnh hỗ trợ tối đa 10 công trình, mức hỗ trợ tối đa 70% giá trị dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng không quá 1 tỷ đồng/công trình/xã, phường.

Đối với công trình sửa chữa, mỗi năm hỗ trợ tối đa 20 công trình với mức hỗ trợ không quá 500 triệu đồng/công trình/xã, phường theo dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nghị quyết cũng quy định nguyên tắc, điều kiện hỗ trợ là việc làm mới, sửa chữa nhà rông, nhà sàn cộng đồng truyền thống phải bảo đảm các yếu tố truyền thống của dân tộc tại địa phương.

Ưu tiên hỗ trợ việc làm mới, sửa chữa nhà rông, nhà sàn cộng đồng truyền thống tại các địa phương duy trì thường xuyên, hiệu quả hoạt động văn hóa truyền thống liên quan đến cồng chiêng, có nhu cầu cấp thiết về bảo tồn văn hóa truyền thống và có tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng.

Các công trình xây mới, sửa chữa, UBND xã, phường phải lập phương án, kế hoạch thực hiện đảm bảo các yêu cầu kiến trúc, hoa văn, nguyên vật liệu truyền thống; đáng chú ý là có sự thống nhất của cộng đồng dân cư và ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn về văn hóa.

Bà Đỗ Thị Diệu Hạnh - Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch: Góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Cùng với sự phát triển về KT-XH và sự chuyển dịch của loại hình du lịch cộng đồng hiện nay theo hướng bền vững, gắn liền với văn hóa bản địa, việc bảo tồn nhà rông, nhà sàn cộng đồng truyền thống là cần thiết, quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc.

Tuy nhiên, việc làm nhà rông, nhà sàn bằng vật liệu bê tông, mái tôn, mái ngói… đã diễn ra ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, làm thay đổi và mất dần yếu tố văn hóa truyền thống, không phù hợp với bản sắc dân tộc.

Nghệ nhân Ưu tú Yang Danh (xã Vĩnh Thạnh): Hồi sinh và nuôi dưỡng mạch nguồn văn hóa buôn làng

Nhà rông là nơi tụ họp để bàn bạc những việc hệ trọng của buôn làng. Sau khi sáp nhập, quy mô các thôn, làng hiện nay rất lớn, trong khi nhiều nhà rông xây dựng từ lâu đã xuống cấp nghiêm trọng. Chính sách này có ý nghĩa rất lớn, giúp hồi sinh và nuôi dưỡng mạch nguồn văn hóa truyền thống.

Bà Đinh Thị Minh Hà - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hra: Đưa chính sách sớm đi vào cuộc sống

Xã Hra hiện có hơn 14.800 nhân khẩu, trong đó, trên 60% là đồng bào DTTS. Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng việc khôi phục các công trình văn hóa truyền thống sẽ tạo bệ phóng phát triển KT-XH thông qua du lịch cộng đồng.

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/khoi-thong-nguon-luc-phat-trien-con-nguoi-giu-gin-ban-sac-post593080.html