El Nino phát triển rất mạnh, cảnh báo nguy cơ thiếu nước trên diện rộng
El Nino gây ra nguy cơ thiếu nước được cảnh báo tại nhiều khu vực, kéo theo rủi ro đối với sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp.
Dòng chảy nhiều sông, suối thấp hơn 10-75% so với trung bình nhiều năm
Ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, theo số liệu thống kê hiện trạng nguồn nước, từ tháng 5/2026, nguồn nước trên đa số sông, suối đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của El Nino và có xu thế thấp hơn trung bình nhiều năm.
Đến giai đoạn tháng 6-8/2026, tình trạng này thể hiện rõ hơn khi hầu hết dòng chảy trên các sông, suối thuộc 12 lưu vực sông lớn thấp hơn từ 10-75% so với trung bình nhiều năm, ngoại trừ lưu vực sông Hồng và dòng chính sông Mã có mức cao hơn.

Ông Ngô Mạnh Hà, Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: T.T
Dự báo lượng mưa có thể thiếu hụt 10-40%, đồng thời xâm nhập mặn xuất hiện sớm và lấn sâu. Xu hướng thiếu hụt nguồn nước hiện nay được đánh giá tương đồng với diễn biến nguồn nước các năm 2015 và 2019, là hai năm chịu ảnh hưởng lớn bởi El Nino.
Tình trạng thiếu hụt dòng chảy trong các tháng mùa lũ cũng làm gia tăng nguy cơ các hồ chứa không tích đủ nước để cấp cho mùa cạn. Theo kịch bản được đưa ra, 100% hồ thủy điện có nguy cơ không tích đủ nước, với tổng dung tích thiếu hụt khoảng 7,73-11 tỷ m3. Trong số này, 32/43 hồ, tương đương khoảng 74%, có mức thiếu hụt so với thiết kế từ 15-80%.
Đối với hồ thủy lợi, 65% có nguy cơ không tích đủ nước theo thiết kế. Trong đó, 75/189 hồ, tương đương khoảng 40%, có mức thiếu hụt từ 20-87%, tập trung chủ yếu tại Tây Nguyên và ven biển Nam Trung Bộ. Mức thiếu hụt tại các khu vực này phổ biến từ 35-70%.
Ông Ngô Mạnh Hà nhận định, việc thiếu hụt lượng mưa và mùa mưa kết thúc sớm còn có thể khiến dòng chảy trên các sông, suối suy giảm trong các tháng mùa cạn. Kinh nghiệm từ các năm hạn 2015-2016 và 2019-2020 cho thấy dòng chảy trên các sông, suối chính thuộc các lưu vực sông lớn có thể thiếu hụt 15-78% so với trung bình nhiều năm.
Trong đó, các sông, suối khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có mức thiếu hụt cao, trên 40%. Một số sông, suối có mức thiếu hụt trên 60%, như sông Kôn, sông Ba và thượng lưu sông Đồng Nai.
Nguồn nước suy giảm có thể làm gia tăng nguy cơ mất an ninh nguồn nước trên các lưu vực sông và phạm vi cả nước. Các lĩnh vực được nhận diện có nguy cơ chịu tác động gồm nước cấp cho sinh hoạt; nước phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nước cho nông nghiệp và nguồn nước góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.
Tại nhóm lưu vực sông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ gồm Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã và Cả, dù hạ tầng thủy lợi tương đối đồng bộ, vẫn có nguy cơ thiếu nước cấp cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cho khoảng 29 triệu dân do dòng chảy, mực nước sông suy giảm và gia tăng xâm nhập mặn.
Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chịu áp lực lớn
Cục Quản lý Tài nguyên nước cảnh báo xâm nhập mặn có thể vào sâu 32 km trên sông Cả và 28-30 km trên sông Mã. Đồng thời, khoảng 800.000 ha sản xuất nông nghiệp có nguy cơ thiếu nước, trong đó sông Hồng khoảng 500.000 ha, sông Mã khoảng 102.000 ha và sông Cả khoảng 213.000 ha.
Đối với nhóm lưu vực sông Duyên hải Nam Trung Bộ gồm Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh và Ba, đây được xác định là nhóm lưu vực dễ tổn thương do địa hình ngắn, dốc, hạ tầng trữ và điều tiết nước hạn chế, mùa khô kéo dài và dòng chảy suy giảm mạnh.
Dòng chảy sông Kôn giảm 72,8%, sông Ba giảm 67,5% và sông Thu Bồn giảm 52,8%. Nguy cơ thiếu nước sinh hoạt và sản xuất được lưu ý tại Đà Nẵng, hạ lưu sông Ba, thượng lưu và trung lưu sông Ba, thượng lưu sông Kỳ Lộ. Xâm nhập mặn tại hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn có thể ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp tại Đà Nẵng.

Hán hán nghiêm trọng do El Nino. Ảnh: MAE
Tại Tây Nguyên, sản xuất nông nghiệp được đánh giá là lĩnh vực có nguy cơ bị ảnh hưởng lớn nhất. Đáng chú ý, tỷ lệ chủ động nước đối với cây lâu năm chỉ đạt 17-19%. Khi dòng chảy suy giảm, diện tích cây công nghiệp, cây lâu năm ngoài phạm vi cấp nước của công trình thủy lợi sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào ao hồ nhỏ, sông suối và nước dưới đất.
Nhóm lưu vực sông Đông Nam Bộ, gồm sông Đồng Nai và vùng phụ cận, được xác định có chỉ số căng thẳng nguồn nước mùa cạn cao nhất cả nước, với nhu cầu nước lớn và nguy cơ cao đối với sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Hệ thống cấp nước đô thị tại khu vực này có tổng công suất khoảng 5,21 triệu m3/ngày đêm, trong đó 91% công suất cấp nước đô thị phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào hồ chứa thượng lưu. Vì vậy, dòng chảy suy giảm, ô nhiễm, xâm nhập mặn và áp lực từ các dự án chuyển nước có thể ảnh hưởng đến an ninh cấp nước.
Nông nghiệp cũng đứng trước nguy cơ thiếu nước, nhất là khu vực sử dụng nguồn nước từ hệ thống Dầu Tiếng - Phước Hòa, với tổng diện tích tưới và tạo nguồn khoảng 210.000 ha đất sản xuất của Tây Ninh và Hồ Chí Minh.
Tại Nam Bộ, lưu vực sông Cửu Long có tổng lượng nước mặt và nhu cầu nước lớn nhất cả nước nhưng nhạy cảm với El Nino do phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước phía thượng lưu sông Mê Công. Khu vực hạ lưu sông Mê Công cũng hoàn toàn thiếu các hồ chứa điều tiết dung tích lớn.
Theo kịch bản, khi dòng chảy sông Tiền và sông Hậu giảm 40-60%, kết hợp với xâm nhập mặn 4 g/l vào sâu 40-70 km, an ninh cấp nước đô thị và sản xuất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng. Đáng chú ý, 87,3% công suất khai thác nước đô thị tại khu vực được lấy từ các sông độc lập không có công trình điều tiết.
Các xã ven biển thuộc hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre, Nam Bến Tre, Gò Công được xác định có thể chịu ảnh hưởng lớn nếu xảy ra hạn hán, thiếu nước. Trong đó, hệ thống Gò Công dù ngăn mặn tốt nhưng thiếu nguồn bổ cập nước ngọt từ thượng nguồn.
Nguy cơ thiếu nước cả về số lượng và chất lượng vẫn có thể xảy ra, nhất là tại các khu vực ven biển và một số địa bàn thuộc Tây Ninh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ.
Ông Ngô Mạnh Hà nhận định, trước nguy cơ hạn hán và thiếu nước, giải pháp trọng tâm được xác định là chủ động từ sớm, từ xa, điều hòa và phân phối tài nguyên nước theo từng lưu vực sông, không chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới ứng phó.
Một trong những nhiệm vụ được đề xuất là theo dõi chặt chẽ, cập nhật thường xuyên các bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; đồng thời tăng cường cảnh báo tại những khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước, đặc biệt là miền Trung, Tây Nguyên và sông Cửu Long.
Các hồ chứa thủy lợi, thủy điện cần được chủ động tích nước sớm từ mùa lũ, tùy theo từng lưu vực sông, nhằm tạo nguồn nước điều tiết cho mùa khô năm 2027. Việc vận hành hồ chứa cần linh hoạt, vừa tham gia phòng lũ, bảo đảm an toàn hạ du, vừa tận dụng khả năng tích nước trong các tháng mùa lũ trên cơ sở theo dõi diễn biến khí tượng thủy văn, nguồn nước và nhu cầu sử dụng nước của các ngành.

