[Emagazine] Ngân hàng - doanh nghiệp: Từ quan hệ vay vốn đến đối tác cùng phát triển

Hơn 4,1 triệu tỷ đồng dư nợ, tốc độ tăng tín dụng cao hơn mức chung của nền kinh tế và khoảng 407.000 tỷ đồng các chương trình, sản phẩm ưu đãi đã được các ngân hàng công bố. Dòng vốn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được mở rộng, nhưng câu chuyện tiếp cận vốn vẫn còn những điểm nghẽn. Bài toán đặt ra không chỉ là có thêm bao nhiêu vốn, mà là làm thế nào để vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm, với chi phí phù hợp mà vẫn bảo đảm an toàn tín dụng.


Vốn phải rộng cửa, nhưng không thể hạ chuẩn tín dụng

Những con số cho thấy nguồn vốn đang được mở rộng. Nhưng thực tế từ cơ quan quản lý, ngân hàng đến cộng đồng doanh nghiệp đều cùng nhìn nhận, tăng cung tín dụng mới chỉ là một nửa của bài toán.
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, khu vực DNNVV, với số lượng chiếm khoảng 98% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả kinh doanh, là lực lượng đông đảo, năng động, có mặt ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, giữ vị trí, vai trò quan trọng tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định doanh nghiệp, doanh nhân là lực lượng chủ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, trong đó xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đã ban hành nhiều nghị quyết, đề ra nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và ban hành riêng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo cơ sở pháp lý và môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
Về phía ngành Ngân hàng, theo Phó Thống đốc, NHNN luôn nhận thức rõ tín dụng là một trong những nguồn lực thiết yếu hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh. Vì vậy, thời gian qua, NHNN đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, DNNVV tiếp cận vốn tín dụng.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa “có nhu cầu vay” và “đủ điều kiện vay” vẫn là điểm nghẽn đáng kể. Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng NHNN, những biến động của kinh tế thế giới, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng và thị trường tiêu thụ thu hẹp tiếp tục ảnh hưởng đến doanh thu, dòng tiền và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Khi đầu ra thiếu ổn định, có trường hợp doanh nghiệp cần vốn nhưng phương án sản xuất, kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu về hiệu quả và khả năng trả nợ. Ở chiều ngược lại, ngân hàng phải ngày càng đáp ứng đầy đủ hơn các chuẩn mực quản trị rủi ro. Điều đó đòi hỏi thông tin về khách hàng, phương án sử dụng vốn, khả năng trả nợ và các điều kiện bảo đảm phải đủ tin cậy.

Đây cũng là vấn đề được Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn nhấn mạnh, cần nhìn nhận rằng ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp, nhưng có tính chất đặc thù là huy động vốn trong nền kinh tế để cho vay. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, các ngân hàng phải bảo đảm khả năng thu hồi nợ để hoàn trả tiền cho người gửi tiền.
Thực tế cũng cho thấy sức chống chịu của một bộ phận DNNVV vẫn còn hạn chế. Năm 2025 có hơn 114.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động và khoảng 35.900 doanh nghiệp giải thể. Trong 8 tháng đầu năm 2026, khoảng 88.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động và 40.800 doanh nghiệp giải thể.
Trong bối cảnh đó, việc mở rộng tín dụng nếu không đi kèm đánh giá đầy đủ năng lực và khả năng trả nợ có thể kéo theo nguy cơ gia tăng nợ xấu.
Theo Thống đốc, hỗ trợ doanh nghiệp là yêu cầu và trách nhiệm của ngành Ngân hàng, nhưng việc lựa chọn doanh nghiệp để cho vay, cách thức hỗ trợ để vừa đáp ứng nhu cầu vốn, vừa bảo đảm khả năng thu hồi vốn vẫn là bài toán các tổ chức tín dụng phải giải quyết.

Từ góc nhìn của cơ quan Quốc hội, bà Nguyễn Thị Phú Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cũng cho rằng, đây không phải bài toán đơn giản. Doanh nghiệp mong muốn được tiếp cận vốn, nhưng ngân hàng cũng phải bảo đảm quản trị rủi ro, không thể để việc mở rộng cho vay dẫn tới nợ xấu và mất an toàn.
Theo bà Hà, qua các cuộc khảo sát, tham vấn hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, bên cạnh thủ tục hành chính, một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm nhất vẫn là làm thế nào tiếp cận được nguồn vốn và giảm chi phí vốn.
Điều này cho thấy yêu cầu đặt ra không phải là lựa chọn giữa “mở tín dụng” hay “siết tín dụng”, mà là tìm ra một phương thức đánh giá sát hơn với thực chất hoạt động của DNNVV.
KHi dòng tiền và dữ liệu trở thành chìa khoá mở cánh cửa tín dụng
Một trong những điểm nghẽn được nhìn nhận hiện nay là sự phụ thuộc của hoạt động cấp tín dụng vào tài sản bảo đảm truyền thống. Với những doanh nghiệp có bất động sản, nhà xưởng hoặc tài sản cố định đủ giá trị, đây có thể không phải vấn đề lớn. Nhưng đối với doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp công nghệ hay các doanh nghiệp nhỏ có tài sản chủ yếu nằm trong hàng hóa, đơn hàng và các khoản phải thu, yêu cầu tài sản thế chấp có thể trở thành một rào cản.
Vấn đề vì thế không chỉ nằm ở chỗ doanh nghiệp “có tài sản hay không”, mà là ngân hàng có đủ dữ liệu để nhìn thấy khả năng tạo tiền và trả nợ của doanh nghiệp hay chưa.
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, đối với khoản vay không có tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng cần đủ thông tin về tình hình tài chính, dòng tiền, lịch sử hoạt động và khả năng trả nợ. Tuy nhiên, dữ liệu phục vụ đánh giá DNNVV hiện còn phân tán; việc kết nối thông tin từ thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, hiệp hội ngành nghề và các nguồn chính thống khác chưa đầy đủ. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy nếu muốn mở rộng tín dụng dựa trên dòng tiền thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Cùng quan điểm, bà Nguyễn Thị Phú Hà cho rằng cần nâng cao tính công khai, minh bạch và tăng cường kết nối dữ liệu. Một hệ thống dữ liệu đầy đủ, được kết nối sẽ giúp tổ chức tín dụng có thêm cơ sở đánh giá doanh nghiệp, qua đó từng bước tháo gỡ khó khăn trong cho vay tín chấp.

Từ yêu cầu thực tế này, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết, việc đánh giá tín dụng đối với DNNVV cần dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, chuỗi giá trị và năng lực quản trị, phù hợp với khả năng kiểm soát rủi ro của từng tổ chức tín dụng và quy định của pháp luật. Đồng thời, các tổ chức tín dụng cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu khách hàng DNNVV, tăng cường khai thác, kết nối và chia sẻ dữ liệu theo quy định, phục vụ công tác đánh giá, thẩm định và giám sát khoản vay, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Về phía NHNN, một trong những nhiệm vụ được đặt ra là nghiên cứu xây dựng đề án thí điểm phân tích dữ liệu dòng tiền phục vụ hoạt động thông tin tín dụng, trên cơ sở đánh giá tính khả thi của việc kết nối, khai thác các nguồn dữ liệu hợp pháp để đề xuất khuôn khổ pháp lý phù hợp, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận vốn của DNNVV.
Cùng với đổi mới phương thức đánh giá tín dụng, Thống đốc yêu cầu các tổ chức tín dụng thay đổi cách tiếp cận khách hàng, thực sự chuyển mạnh từ tư duy “doanh nghiệp tìm đến ngân hàng” sang “ngân hàng chủ động tìm đến doanh nghiệp”; chủ động nắm bắt nhu cầu vốn, đồng hành cùng doanh nghiệp và tiếp tục cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật.

Từ phía cộng đồng doanh nghiệp, Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh, nhu cầu vốn trong giai đoạn mới ngày càng đa dạng, vì vậy không thể chỉ phụ thuộc vào một kênh tín dụng ngân hàng truyền thống. Theo đó, Hiệp hội đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đa dạng hóa chủ thể cung ứng tài chính cho DNNVV và hộ kinh doanh.
Cùng với đó là các hình thức tài trợ dựa trên chính tài sản hình thành trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như khoản phải thu, hàng hóa luân chuyển, kho hàng, chuỗi cung ứng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và tài trợ thương mại.
Điểm chung của những phương thức này là giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn trên cơ sở dòng tiền và tài sản kinh doanh thực tế.

Để ngân hàng có thể thay đổi cách đánh giá doanh nghiệp, bản thân doanh nghiệp cũng phải tạo dựng được cơ sở để ngân hàng hiểu và đánh giá đúng năng lực của mình. Hồ sơ tài chính thiếu minh bạch, số liệu quản trị nội bộ không thống nhất với báo cáo thuế, dòng tiền chưa được quản lý rõ ràng hay phương án kinh doanh thiếu tính khả thi đều có thể trở thành rào cản trong tiếp cận tín dụng.
Từ phía cộng đồng doanh nghiệp, Hiệp hội DNNVV Việt Nam cho rằng doanh nghiệp cần nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị, chất lượng số liệu tài chính và trách nhiệm trong sử dụng vốn. “Yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa”, ông Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh.
Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng đề nghị doanh nghiệp chủ động nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin tài chính, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, quản lý tốt dòng tiền và cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho tổ chức tín dụng. "Đây không chỉ là điều kiện để tiếp cận vốn ngân hàng mà còn là nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững", Thống đốc lưu ý.

Từ thực tế đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, vấn đề tín dụng hiện nay không chỉ nằm ở việc doanh nghiệp có tiếp cận được vốn hay không, mà quan trọng hơn là nguồn vốn có đến đúng thời điểm, đúng kỳ hạn và phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay không.
Qua các phiên đối thoại với doanh nghiệp tại nhiều địa phương, chúng tôi nhận thấy nhu cầu vốn vẫn rất lớn, đặc biệt với DNNVV. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng quy mô tín dụng, điều cần quan tâm là nâng cao chất lượng dẫn vốn, để dòng vốn thực sự hỗ trợ doanh nghiệp tạo thêm năng lực sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh.
Một trong những hướng quan trọng là tiếp tục rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn các điều kiện tín dụng. Với doanh nghiệp, thời gian có ý nghĩa rất lớn. Nhiều cơ hội kinh doanh chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định, nên nếu vốn được đáp ứng kịp thời, hiệu quả sử dụng vốn cũng sẽ cao hơn.
Bên cạnh đó, phương thức thẩm định có thể tiếp tục được hoàn thiện theo hướng xem xét toàn diện hơn năng lực của doanh nghiệp. Bên cạnh tài sản bảo đảm, các yếu tố như dòng tiền, doanh thu, hợp đồng, đơn hàng, lịch sử thanh toán hay nghĩa vụ thuế đều có thể cung cấp thêm thông tin về khả năng thực hiện phương án kinh doanh và trả nợ.
Đối với những doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, có đầu ra tương đối ổn định và dữ liệu minh bạch, việc phát triển các phương thức tín dụng dựa trên dòng tiền, đơn hàng hoặc khoản phải thu cũng là hướng đáng quan tâm.
Một vấn đề khác là kỳ hạn vốn. Doanh nghiệp không chỉ cần vốn lưu động mà còn cần nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư máy móc, công nghệ, logistics, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hay nông nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, kỳ hạn vay và phương thức trả nợ nếu được thiết kế phù hợp hơn với chu kỳ đầu tư của từng ngành sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch tài chính.
"Về phía doanh nghiệp, chúng tôi cũng xác định phải nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa kế toán, quản trị dòng tiền và chất lượng phương án kinh doanh. Khi dữ liệu giữa doanh nghiệp và ngân hàng ngày càng đầy đủ, tin cậy, quá trình thẩm định sẽ thuận lợi hơn cho cả hai bên. Theo tôi, doanh nghiệp không cần vốn rẻ bằng mọi giá, mà cần nguồn vốn phù hợp với năng lực tạo dòng tiền và kế hoạch phát triển. Đồng vốn hiệu quả nhất là đồng vốn đến đúng lúc và tạo ra thêm giá trị cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế", bà Hương nói.

Đối với Agribank, DNNVV là nhóm khách hàng quan trọng, chiếm khoảng 60% dư nợ cho vay doanh nghiệp, với quy mô dư nợ khoảng 2 triệu tỷ đồng. Ngân hàng cũng chủ động triển khai nhiều chương trình, gói tín dụng quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Từ thực tế triển khai, tôi cho rằng điều quan trọng trước hết là ngân hàng phải chủ động tiếp cận, tư vấn và cùng doanh nghiệp hoàn thiện phương án sản xuất, kinh doanh khả thi. Agribank đặc biệt quan tâm đến các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, bởi khi phương án kinh doanh rõ ràng, khả năng tiếp cận vốn cũng thuận lợi hơn.
Ngân hàng cũng đang tiếp tục đổi mới phương thức cấp tín dụng theo hướng đánh giá nhiều hơn dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và khả năng kiểm soát rủi ro kinh doanh, qua đó từng bước đa dạng hóa căn cứ thẩm định, thay vì chỉ tập trung vào tài sản bảo đảm. Song song với đó ngân hàng tiếp tục tinh giản hồ sơ, đẩy mạnh ứng dụng ngân hàng số và công nghệ để rút ngắn thời gian xử lý.
Theo tôi, để tín dụng đến được nhiều doanh nghiệp hơn, một trong những vấn đề cốt lõi vẫn là tính minh bạch. Khi doanh nghiệp có hệ thống sổ sách, báo cáo và dòng tiền rõ ràng, ngân hàng sẽ có thêm cơ sở để đánh giá đúng năng lực tài chính và phương án vay vốn. Đây không chỉ là yêu cầu từ phía ngân hàng mà còn là điều kiện giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín tín dụng lâu dài.
Cần phải nhìn nhận rằng, giữa ngân hàng và doanh nghiệp nên có sự phối hợp trực tiếp, thực chất hơn. Những trường hợp doanh nghiệp có dự án, có năng lực tài chính nhưng vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn cần được xem xét cụ thể để xác định nguyên nhân nằm ở đâu và cùng tìm cách tháo gỡ.
Agribank sẵn sàng làm việc trực tiếp với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp trên tinh thần đó. Mục tiêu của ngân hàng không chỉ dành nguồn vốn, mà còn chủ động đồng hành, tư vấn và giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh, để những doanh nghiệp có phương án khả thi và hoạt động minh bạch có thêm cơ hội tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và NHNN, thời gian qua Vietcombank đã chủ động bố trí nguồn vốn, nguồn lực để hỗ trợ DNNVV thông qua các chương trình tín dụng phù hợp. Trong 8 tháng đầu năm, ngân hàng đã triển khai 4 đợt giảm lãi suất, với mức giảm từ 0,5-2%/năm dành cho nhóm khách hàng này.
Đến hết tháng 8, tăng trưởng tín dụng chung của Vietcombank đạt khoảng 7,8%, trong khi tín dụng dành cho DNNVV tăng 13,5%. Điều này cho thấy DNNVV tiếp tục là một trong những nhóm khách hàng được chúng tôi quan tâm và dành nguồn lực hỗ trợ.
Từ thực tế triển khai, một trong những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ là khả năng khai thác và kết nối các nguồn dữ liệu phục vụ thẩm định tín dụng. Hiện nay, các dữ liệu như thuế, hóa đơn điện tử, hải quan hay bảo hiểm xã hội nếu được kết nối đồng bộ hơn sẽ giúp ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá chính xác năng lực tài chính, dòng tiền và hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Về phía DNNVV, ngân hàng mong muốn doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực tài chính và quản trị, thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, thống kê, minh bạch dòng tiền, đồng thời tăng cường thực hiện doanh thu và thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Khi dữ liệu tài chính rõ ràng và có thể kiểm chứng, ngân hàng sẽ có thêm cơ sở để phát triển các phương thức cho vay dựa trên dòng tiền, qua đó đa dạng hóa căn cứ cấp tín dụng.
Một đề xuất quan trọng khác là hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin và dữ liệu doanh nghiệp. Theo tôi, có thể phát huy vai trò của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) theo hướng trở thành đầu mối tổng hợp, kết nối và cung cấp thông tin phục vụ đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp; đồng thời nghiên cứu cơ chế để doanh nghiệp chủ động chấp thuận việc chia sẻ dữ liệu với tổ chức tín dụng.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cũng cần tiếp tục được nâng cao, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục và hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ rủi ro giữa các bên.
Với vai trò là một ngân hàng thương mại lớn trong hệ thống, Vietcombank sẽ tiếp tục chủ động bố trí nguồn lực và triển khai thực chất, hiệu quả các giải pháp hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.

Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, tôi cho rằng để hỗ trợ DNNVV tiếp cận tín dụng hiệu quả hơn, bên cạnh quy mô nguồn vốn và lãi suất, cần quan tâm đến phương thức đánh giá phù hợp với đặc điểm của từng nhóm doanh nghiệp.
Với DNVVN, đặc biệt là doanh nghiệp mới thành lập, thời gian hoạt động và dữ liệu tài chính thường còn hạn chế. Vì vậy, tôi kỳ vọng quá trình thẩm định có thể xem xét tổng thể nhiều yếu tố như mô hình kinh doanh, quy mô khoản vay, tình hình tài chính, dòng tiền, hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh và mức độ rủi ro.
Việc đa dạng hóa các căn cứ đánh giá sẽ tạo thêm điều kiện để những doanh nghiệp có phương án khả thi tiếp cận vốn, đồng thời vẫn bảo đảm quyền tự chủ trong quyết định cấp tín dụng và yêu cầu quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng.
Đơn cử như doanh nghiệp hoạt động dưới một năm, việc chứng minh năng lực tài chính cũng cần có phương thức phù hợp với đặc thù của nhóm doanh nghiệp này. Khi dữ liệu lịch sử còn hạn chế, có thể nghiên cứu thêm những căn cứ khác như dòng tiền dự kiến, hợp đồng đầu ra, đơn hàng, năng lực của chủ doanh nghiệp hoặc tính khả thi của phương án kinh doanh để ngân hàng có thêm thông tin trong quá trình đánh giá.
Một vấn đề khác mà doanh nghiệp rất quan tâm là tính ổn định và khả năng dự báo của nguồn vốn. Với doanh nghiệp đang triển khai phương án sản xuất kinh doanh trung và dài hạn, sự ổn định tương đối về hạn mức tín dụng, thời hạn vay và chi phí vốn có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng kế hoạch tài chính. Tất nhiên, ngân hàng vẫn phải điều chỉnh hoạt động tín dụng theo diễn biến thị trường, mức độ rủi ro và yêu cầu an toàn hệ thống. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong dự báo khả năng tiếp cận vốn thì việc tổ chức sản xuất, đầu tư và quản trị dòng tiền cũng sẽ thuận lợi hơn.
Mục tiêu cuối cùng là tìm được điểm cân bằng: doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận vốn dựa trên năng lực và hiệu quả thực chất, trong khi ngân hàng vẫn bảo đảm các nguyên tắc an toàn và quản trị rủi ro. Khi tiêu chí đánh giá ngày càng sát với đặc điểm của từng nhóm doanh nghiệp, dòng vốn tín dụng sẽ có điều kiện đi đúng địa chỉ hơn, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững.

Thực hiện: Nhóm PV
Đồ họa: Lê Thành
