[Emagazine] Nới 'van' tín dụng dài hạn: Mở thêm không gian vốn cho chu kỳ đầu tư mới

Bước đi linh hoạt nhằm tạo thêm dư địa tài chính

Cùng với việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, Thông tư mới cũng điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Theo đó, tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng và tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tiếp tục không được tính vào tổng tiền gửi. Đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng chỉ phải loại trừ 80% số dư, hoặc một tỷ lệ khác do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ. Như vậy, một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào mẫu số khi xác định LDR, qua đó góp phần tạo thêm dư địa cho hoạt động tín dụng.
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc NHNN Khu vực 2, việc điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) sẽ tác động tích cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng và góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng trong năm 2026. Cụ thể, quy định mới tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng khai thác và sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, giữa cho vay ngắn hạn với cho vay trung, dài hạn, phù hợp với kỳ hạn và lãi suất, qua đó hỗ trợ tăng trưởng tín dụng theo định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh đó, việc mở rộng khả năng cho vay trung và dài hạn sẽ tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của doanh nghiệp phục vụ đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh.

Ở góc độ chính sách, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng, việc NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai, nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn, đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải có thêm dư địa để đáp ứng.
“Về lâu dài vẫn là giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng và thúc đẩy các kênh dẫn vốn trung, dài hạn phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và các lĩnh vực trọng điểm đang gia tăng mạnh, việc nâng trở lại tỷ lệ này lên 40% được xem là giải pháp linh hoạt nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế”, TS. Võ Trí Thành nhận định.

Phân tích sâu hơn về nhu cầu vốn của nền kinh tế, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, Việt Nam đang bước vào một chu kỳ đầu tư mới, với nhu cầu vốn lớn cho hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, chuyển đổi số, công nghiệp chế biến, chế tạo, khu công nghiệp và nhà ở xã hội. Trong khi đó, cơ cấu thị trường tài chính vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng; các kênh vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các định chế tài chính phi ngân hàng chưa đủ chiều sâu để chia sẻ áp lực cung ứng vốn.
Bối cảnh thanh khoản của hệ thống hiện cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc điều chỉnh. Theo số liệu của NHNN, tiền gửi của dân cư tại các tổ chức tín dụng đến hết tháng 3/2026 đạt hơn 10,56 triệu tỷ đồng, tăng 2,19% so với cuối năm 2025 và là mức cao nhất từ trước đến nay. Nguồn tiền gửi tăng cho thấy niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng tiếp tục được duy trì, đồng thời bổ sung nguồn lực cho hoạt động cấp tín dụng. Việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn vì thế sẽ giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong phân bổ nguồn vốn, giảm bớt áp lực phải huy động vốn dài hạn với chi phí cao.
Những lĩnh vực được kỳ vọng hưởng lợi trước tiên là hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics, khu công nghiệp, sản xuất, xuất khẩu và chuyển đổi số. Đây là các ngành có nhu cầu vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài nhưng có khả năng tạo thêm năng lực sản xuất, cải thiện năng suất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đối với bất động sản, chính sách mới có thể hỗ trợ các dự án có pháp lý hoàn chỉnh, phương án tài chính khả thi và dòng tiền rõ ràng, nhất là nhà ở xã hội, nhà ở cho người lao động và bất động sản công nghiệp.


Một yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi này theo TS. Châu Đình Linh, giảng viên Đại học Ngân hàng TP.HCM là năng lực quản trị của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện sau nhiều năm tái cơ cấu. Nhiều tổ chức tín dụng đã hoàn thành các yêu cầu của Basel II, trong khi một số ngân hàng lớn đang từng bước tiếp cận Basel III. Năng lực vốn, quản trị tài sản - nguồn vốn, giám sát thanh khoản và kiểm soát rủi ro vì thế đã tốt hơn so với giai đoạn trước.
Không đánh đổi an toàn lấy tăng trưởng tín dụng
Việc mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn cũng đi kèm những yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro. Bởi sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản đối với một số tổ chức tín dụng nếu thị trường xuất hiện những biến động bất lợi.
TS. Châu Đình Linh cho rằng điều quan trọng không chỉ nằm ở con số 40%, mà ở cách thức tổ chức thực hiện. Việc áp dụng cần gắn với sức khỏe tài chính, chất lượng tài sản và năng lực quản trị của từng tổ chức tín dụng, thay vì coi đây là một dư địa có thể sử dụng đồng loạt và tối đa. Những ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao, tỷ lệ nợ xấu thấp, cơ cấu tiền gửi ổn định, khả năng quản trị thanh khoản tốt và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để mở rộng cho vay trung, dài hạn.
Ngược lại, các tổ chức tín dụng có nền vốn mỏng, phụ thuộc nhiều vào tiền gửi ngắn hạn hoặc chất lượng tài sản còn hạn chế cần thận trọng hơn trong việc sử dụng dư địa mới. Khi kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản chênh lệch lớn, ngân hàng sẽ nhạy cảm hơn trước biến động lãi suất và sự dịch chuyển của dòng tiền gửi.

Ông Nguyễn Quang Huy lưu ý thêm rủi ro lãi suất khi chi phí huy động ngắn hạn thường điều chỉnh nhanh theo thị trường, trong khi lãi suất của các khoản vay trung và dài hạn có độ trễ lớn hơn. Nếu lãi suất huy động tăng, chi phí vốn của ngân hàng sẽ đi lên nhưng thu nhập từ các khoản cho vay chưa thể điều chỉnh tương ứng, khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp. Điều này có thể tạo áp lực lên hiệu quả kinh doanh, nhất là đối với những ngân hàng sử dụng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức cao. Ngoài ra, việc có thêm dư địa tín dụng có thể tạo áp lực mở rộng cho vay vào những lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài, hiệu quả chưa rõ ràng hoặc biến động mạnh. Nếu tiêu chuẩn thẩm định bị hạ thấp, dòng vốn có thể chảy vào các dự án đầu cơ, thiếu dòng tiền thực hoặc phụ thuộc vào việc đảo nợ. Khi điều kiện kinh tế thay đổi, rủi ro nợ xấu sẽ gia tăng.
Việc nâng tỷ lệ lên 40% theo ông Nguyễn Quang Huy không chỉ là giải pháp hỗ trợ tăng trưởng mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị của từng ngân hàng. Theo đó, các tổ chức tín dụng cần chủ động xây dựng giới hạn nội bộ phù hợp với năng lực tài chính và quản trị rủi ro của mình, thay vì mặc nhiên sử dụng hết mức trần được phép. Vị chuyên gia cũng khuyến nghị các ngân hàng tăng cường kiểm tra sức chịu đựng trước các kịch bản lãi suất tăng, tiền gửi suy giảm hoặc chất lượng tín dụng xấu đi; đồng thời tiếp tục tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực vốn tự có, phát hành trái phiếu kỳ hạn dài và đa dạng hóa nguồn vốn. Bên cạnh đó, công tác quản trị tài sản - nguồn vốn cần được củng cố thông qua dự báo dòng tiền, giám sát khoảng cách kỳ hạn, duy trì tài sản có tính thanh khoản cao và xây dựng các phương án ứng phó trong điều kiện thị trường biến động.
TS. Võ Trí Thành cũng nhấn mạnh, việc đánh giá tác động của chính sách không nên chỉ nhìn từ góc độ tài chính - ngân hàng mà cần đặt trong tổng thể các cân đối vĩ mô. Vì vậy, việc điều hành cần có cách tiếp cận tổng thể để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Ở góc độ dài hạn, vị chuyên gia cho rằng việc điều chỉnh tỷ lệ lần này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy nhanh quá trình phát triển thị trường vốn. Một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó thị trường vốn từng bước chia sẻ gánh nặng cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng, sẽ góp phần nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững của nền kinh tế.
Nhóm PV
Đồ họa: Lê Thành












