FD 2026: Chuyên gia 'hiến kế' để TP. Hồ Chí Minh đón dòng chảy toàn cầu

Khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang định hình những dòng chảy mới, TP. Hồ Chí Minh đứng trước cơ hội trở thành mắt xích logistics quan trọng của khu vực, yếu tố “xanh” và kết nối quốc tế là những lợi thế cạnh tranh ngày càng rõ nét.

Bên lề Đối thoại Hữu nghị TP. Hồ Chí Minh năm 2026 (FD 2026) vừa qua, Giám đốc Bộ phận Kinh doanh quốc tế, Liên đoàn Doanh nghiệp Singapore (SBF) Tan Shu Yee và Giám đốc Chính quyền Cảng Incheon (IPA) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Lee Duck Young đã trả lời phỏng vấn Báo Thế giới và Việt Nam về cơ hội nâng cao vai trò của Thành phố trong chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển logistics xanh và xây dựng các kết nối cảng biển bền vững.

Tạo lực cho TP. Hồ Chí Minh vươn lên trung tâm logistics khu vực

Giám đốc Bộ phận Kinh doanh quốc tế, Liên đoàn Doanh nghiệp Singapore (SBF) Tan Shu Yee chia sẻ về cơ hội hợp tác phát triển logistics, hạ tầng xanh và chuỗi cung ứng số giữa Singapore - TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Long)

Giám đốc Bộ phận Kinh doanh quốc tế, Liên đoàn Doanh nghiệp Singapore (SBF) Tan Shu Yee chia sẻ về cơ hội hợp tác phát triển logistics, hạ tầng xanh và chuỗi cung ứng số giữa Singapore - TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Long)

Trong quá trình tái cấu trúc của chuỗi cung ứng toàn cầu, các trung tâm sản xuất và logistics tại châu Á đang đứng trước yêu cầu nâng cao tính kết nối, khả năng thích ứng và phát triển bền vững.

Với vị trí kinh tế năng động, năng lực sản xuất ngày càng được củng cố và hệ thống hạ tầng tiếp tục được đầu tư, TP. Hồ Chí Minh có cơ hội gia tăng vai trò trong các dòng chảy thương mại và logistics của khu vực.

Từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp Singapore, đây cũng là dư địa để hai bên mở rộng hợp tác. Giám đốc Bộ phận Kinh doanh quốc tế, Liên đoàn Doanh nghiệp Singapore (SBF) Tan Shu Yee cho rằng, quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng đang tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Singapore tham gia và cùng phát triển những hành lang thương mại, logistics mới với TP. Hồ Chí Minh.

Qua đó, góp phần hình thành các mạng lưới có sức chống chịu tốt hơn trước những biến động của kinh tế toàn cầu.

Thực tế, sự hiện diện của doanh nghiệp Singapore trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam đã tạo ra những mô hình hợp tác đáng chú ý.

Đại diện SBF dẫn trường hợp YCH Group với dự án Vietnam SuperPort, kết hợp công nghệ, tự động hóa và các giải pháp phát triển bền vững nhằm xây dựng mạng lưới logistics linh hoạt và hiệu quả hơn.

Theo bà Tan Shu Yee, những mô hình kể trên cho thấy, quan hệ hợp tác TP. Hồ Chí Minh-Singapore có thể vượt ra ngoài kết nối thương mại truyền thống, hướng tới cùng phát triển hạ tầng và hệ sinh thái logistics.

Trong thời gian tới, người đứng đầu bộ phận kinh doanh quốc tế của SBF nhận định, ba lĩnh vực có nhiều tiềm năng hợp tác gồm chuỗi cung ứng số, hạ tầng cảng và logistics xanh, cùng các giải pháp logistics lạnh tiên tiến.

Đây là những lĩnh vực Singapore có thế mạnh về công nghệ, quản trị và kinh nghiệm triển khai, trong khi TP. Hồ Chí Minh có lợi thế về thị trường, vị trí kết nối và nhu cầu phát triển ngày càng lớn.

Để thúc đẩy những cơ hội này, SBF tiếp tục đóng vai trò kết nối doanh nghiệp Singapore với thị trường Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực đang được quan tâm như chuyển đổi xanh và hạ tầng số.

Thông qua Trung tâm Doanh nghiệp Singapore tại TP. Hồ Chí Minh, các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp và tìm kiếm đối tác được triển khai nhằm giúp doanh nghiệp hai bên hiểu rõ hơn nhu cầu của thị trường và tìm kiếm những cơ hội hợp tác cụ thể.

Từ đầu năm đến nay, SBF cùng các đối tác như ngân hàng UOB đã đưa hơn 18 doanh nghiệp Singapore thuộc nhiều lĩnh vực tới TP. Hồ Chí Minh tìm hiểu thị trường và cơ hội hợp tác.

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy nhanh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, SBF mong muốn tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp để nhận diện những lĩnh vực có nhu cầu mới, xác định khả năng đóng góp của doanh nghiệp Singapore và thúc đẩy các kết nối thực chất với đối tác Việt Nam.

Những chuyển động ấy đòi hỏi hệ thống logistics phải nâng cao năng lực kết nối, đồng thời đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn về môi trường và hiệu quả vận hành.

Muốn cạnh tranh, phải “xanh hóa”

Từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống logistics, xanh hóa cảng biển đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để các trung tâm logistics thích ứng với những tiêu chuẩn mới của thương mại quốc tế. Kinh nghiệm thực tiễn của cảng Incheon cũng cho thấy, quá trình này đòi hỏi cần thay đổi phương thức vận hành và cách thức quản lý phát thải.

Giám đốc Chính quyền cảng Incheon (IPA) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Lee Duck Young chia sẻ kinh nghiệm xanh hóa cảng biển, quản lý dữ liệu phát thải và xây dựng hành lang vận tải biển xanh giữa Incheon - TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Long)

Giám đốc Chính quyền cảng Incheon (IPA) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Lee Duck Young chia sẻ kinh nghiệm xanh hóa cảng biển, quản lý dữ liệu phát thải và xây dựng hành lang vận tải biển xanh giữa Incheon - TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Long)

Theo Giám đốc Chính quyền cảng Incheon (IPA) chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Lee Duck Young, trước những yêu cầu ngày càng cao về giảm phát thải và khử carbon, cảng Incheon đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp xanh.

Trong đó, hệ thống cấp điện từ bờ (AMP) được liên tục mở rộng, cho phép tàu sử dụng điện từ đất liền trong thời gian neo đậu thay vì vận hành máy phát điện diesel, qua đó giảm phát thải khí nhà kính và các chất gây ô nhiễm không khí.

Cảng Incheon đồng thời từng bước chuyển đổi các thiết bị xếp dỡ chủ chốt, như xe đầu kéo và cẩu chuyển, sang các giải pháp phát thải thấp, ưu tiên điện hóa.

Đối với những thiết bị diesel chưa thể thay thế ngay, cảng áp dụng bộ lọc hạt diesel (DPF) để kiểm soát khí thải. Bên cạnh đó, chương trình khuyến khích tàu giảm tốc độ khi ra vào cảng cũng được triển khai nhằm giảm tiêu thụ nhiên liệu và lượng phát thải.

Tuy nhiên, theo ông Lee Duck Young, đầu tư vào thiết bị xanh mới chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi.

Khi các quy định môi trường ngày càng chặt chẽ, năng lực đo lường, thu thập và quản lý dữ liệu phát thải carbon sẽ trở thành một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của cảng biển.

Đây cũng là lĩnh vực Incheon sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với các cảng của Việt Nam, qua đó thúc đẩy hợp tác từ đầu tư hạ tầng sang quản trị môi trường dựa trên dữ liệu.

Từ góc độ này, việc xây dựng một hành lang vận tải biển xanh trực tiếp giữa Incheon và cụm cảng TP. Hồ Chí Minh cần bắt đầu bằng việc hai bên thống nhất một khung dữ liệu chung.

Thay vì chỉ tập trung xây dựng một nền tảng công nghệ, các bên cần xác định rõ loại dữ liệu được đo lường, tiêu chuẩn đo lường, phương thức chia sẻ và cách thức sử dụng dữ liệu. Dữ liệu về phát thải carbon, hạ tầng xanh, tàu và tuyến vận tải có thể được kết nối để cùng thiết lập đường cơ sở, theo dõi và từng bước giảm phát thải trên toàn tuyến.

Song, công nghệ và dữ liệu không thể tự tạo nên một hành lang vận tải xanh nếu thiếu nền tảng hợp tác giữa các bên. Đại diện cảng Incheon cho rằng, niềm tin giữa con người với con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi chỉ khi có sự tin cậy, các bên mới sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và phối hợp lâu dài.

Do đó, xây dựng nhận thức chung về mục tiêu hợp tác và duy trì các hoạt động trao đổi giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và chuyên gia cần được tiến hành song song với quá trình xây dựng hệ thống dữ liệu.

Trên thực tế, cảng Incheon đã có quan hệ trao đổi với một số bến cảng chuyên dụng tại TP. Hồ Chí Minh như SNP, SP-ITC và TCIT. Theo ông Lee Duck Young, giai đoạn tiếp theo cần vượt ra khỏi những mối quan hệ riêng lẻ để hình thành cơ chế hợp tác ở cấp chính quyền cảng, hướng tới xây dựng một mạng lưới cảng xanh giữa hai bên.

Việc kết hợp kinh nghiệm vận hành xanh của Incheon với điều kiện và năng lực thực tế của TP. Hồ Chí Minh có thể tạo cơ sở để xây dựng những mô hình phù hợp với đặc thù của từng cảng.

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh và cụm cảng Cái Mép - Thị Vải đang triển khai nhiều dự án phát triển quy mô lớn.Đại diện cảng Incheon cho rằng, yếu tố xanh cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch và thiết kế, thay vì chờ đến khi hạ tầng hoàn thiện mới bổ sung các giải pháp môi trường.

Việc tích hợp hạ tầng xanh và hệ thống quản lý dữ liệu ngay từ đầu sẽ giúp cảng chủ động hơn trong quá trình đáp ứng các yêu cầu môi trường quốc tế và nâng cao hiệu quả vận hành.

Từ những kết nối hiện có, ông Lee Duck Young kỳ vọng hợp tác giữa Incheon và TP. Hồ Chí Minh có thể tiếp tục được mở rộng, tiến tới sự tham gia của các cảng lớn khác của Hàn Quốc và hình thành mạng lưới hợp tác xanh rộng hơn.

Theo đó, lộ trình có thể bắt đầu từ xây dựng lòng tin, thống nhất tiêu chuẩn dữ liệu, chia sẻ thông tin và từng bước chuyển hóa dữ liệu thành những hành lang vận tải biển xanh thực chất.

Trung Anh

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/fd-2026-chuyen-gia-hien-ke-de-tp-ho-chi-minh-don-dong-chay-toan-cau-443449.html