FDI: Từ thu hút nguồn lực đến tạo dựng nội lực

Gần 40 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam đã huy động nguồn lực lớn cho phát triển, mở rộng xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, bài toán của giai đoạn mới không còn chỉ là thu hút được bao nhiêu vốn, mà quan trọng hơn là bao nhiêu giá trị được tạo ra và ở lại Việt Nam. Chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành năng lực bên trong đang trở thành yêu cầu then chốt để nâng sức cạnh tranh và củng cố nội lực của nền kinh tế. Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt nền móng cho sự chuyển hướng đó.

Bài 1: Bốn thập kỷ FDI: Từ dòng vốn mở cửa đến bài toán giá trị ở lại

Gần 40 năm thu hút FDI, Việt Nam đã huy động nguồn lực lớn cho phát triển, hình thành các ngành sản xuất mới, mở rộng xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng phía sau những con số ấn tượng là một câu hỏi lớn: Dòng vốn quốc tế đã tạo ra bao nhiêu giá trị cho Việt Nam và bao nhiêu trong số đó thực sự được giữ lại, lan tỏa, chuyển hóa thành nội lực?

Sau 4 thập kỷ, Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định FDI là một động lực quan trọng của quá trình mở cửa và phát triển. Ảnh minh hoạ. Nguồn TTXVN

Sau 4 thập kỷ, Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định FDI là một động lực quan trọng của quá trình mở cửa và phát triển. Ảnh minh hoạ. Nguồn TTXVN

Những dòng vốn mở cánh cửa hội nhập

Năm 1991, vốn FDI đăng ký vượt mốc 1 tỷ USD. Với Việt Nam khi ấy, đó không đơn thuần là một con số về vốn, mà là dấu mốc mở đầu cho dòng chảy đầu tư góp phần thay đổi diện mạo nền kinh tế trong những thập niên sau đó.

TS. Phan Hữu Thắng - nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) - nhớ lại: “Thời điểm đó, đây là một tín hiệu cực kỳ quan trọng, cho thấy những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế đã bắt đầu được cộng đồng quốc tế ghi nhận và khởi đầu cho ‘làn sóng FDI thứ nhất’”.

Theo ông Thắng, “làn sóng” này tuy quy mô còn nhỏ nhưng đã đặt nền móng cho những ngành công nghiệp quan trọng mà trước đây chúng ta gần như không có. Những dự án trong lĩnh vực dầu khí, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử; sự xuất hiện của những khách sạn 5 sao đầu tiên tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã từng bước làm thay đổi diện mạo kinh tế đất nước.

Cùng với đó là những khu công nghiệp, khu chế xuất đầu tiên được hình thành. Ông Thắng gọi đó là những “điểm đỗ” cho các nhà đầu tư, thu hút tới 60-70% tổng vốn FDI. Từ những “điểm đỗ” ấy, các làn sóng FDI nối tiếp nhau, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng về thu hút đầu tư trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, thành tựu sâu sắc nhất, theo ông Thắng, chính là quá trình xây dựng niềm tin từ cả hai phía. Về phía Việt Nam, đó là quá trình vượt qua những lo ngại ban đầu, nhận thức ngày càng rõ FDI là một nguồn lực quan trọng cho phát triển; đồng thời liên tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo ra một sân chơi ngày càng bình đẳng, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Về phía nhà đầu tư nước ngoài, họ cũng dần tin tưởng vào sự ổn định và cam kết của Việt Nam. Họ thấy được rằng, dù còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam là một đối tác nghiêm túc, có khát vọng phát triển. Trong điều kiện cơ chế thị trường còn chưa hoàn thiện, việc các nhà đầu tư vẫn có thể hoạt động thuận lợi mà không có sự khác biệt quá lớn so với các nước khác là một thành công đáng kể của Việt Nam.

Gần 40 năm sau, Việt Nam đã thu hút trên 500 tỷ USD vốn đăng ký, hơn 330 tỷ USD vốn thực hiện; khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, trên 70% kim ngạch xuất khẩu, khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm trực tiếp cho hơn 5 triệu lao động.

Giám đốc Khối Ngân hàng toàn cầu HSBC Việt Nam - ông Richard Barnsley - đánh giá, gần 4 thập kỷ, Việt Nam đã thành công trong việc xây dựng vị thế là một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu thế giới đối với dòng vốn FDI. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 3/4 giá trị xuất khẩu của Việt Nam và giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi kinh tế thông qua tạo việc làm, mở rộng xuất khẩu và cải thiện mức sống.

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính - TS. Nguyễn Bích Lâm - bình luận, quyết định mở cửa thu hút FDI là một trong những chủ trương có ý nghĩa chiến lược nhất trong tiến trình Đổi mới. FDI đã bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển trong thời điểm nền kinh tế rất thiếu vốn, đồng thời mang theo công nghệ, phương thức quản trị hiện đại, tiêu chuẩn sản xuất quốc tế và mạng lưới thị trường toàn cầu.

Ông Lâm chỉ rõ, từ chỗ chủ yếu xuất khẩu nông sản và hàng sơ chế, Việt Nam đã hình thành nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn. Những địa phương như Bắc Ninh, Thái Nguyên, Đồng Nai… từng bước trở thành các cực tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ. Ở tầng sâu hơn, FDI còn tạo sức ép tích cực đối với cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng chất lượng nguồn nhân lực và đưa Việt Nam từng bước tiếp cận những chuẩn mực quản trị quốc tế.

Theo Bộ Tài chính, tổng vốn FDI đăng ký trong 7 tháng năm 2026 đạt 38,06 tỷ USD, tăng 57,96% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, tăng 109,7%; vốn đăng ký điều chỉnh đạt 10,43 tỷ USD, tăng 4,44%; góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,62%.

Giá trị ở lại từ dòng vốn FDI

Nếu những thập niên đầu trọng tâm là đón dòng vốn vào Việt Nam thì sau gần 40 năm, vấn đề đặt ra là dòng vốn ấy đã để lại gì cho năng lực của nền kinh tế?

Theo ông Lâm, sau 40 năm thu hút FDI, hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực doanh nghiệp (DN) trong nước vẫn còn nhiều dư địa để phát huy. Việt Nam đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn, nhưng mức độ liên kết với DN Việt chưa thực sự chặt chẽ; tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành vẫn còn hạn chế, giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa cao và năng lực tham gia chuỗi cung ứng của DN trong nước vẫn cần được cải thiện.

Ở một số lĩnh vực, DN Việt Nam hiện vẫn chủ yếu tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp, kiểm thử, đóng gói, trong khi các khâu nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu công nghệ, thương hiệu và hệ thống phân phối toàn cầu do DN FDI đảm nhiệm. Vì thế, sự lan tỏa về công nghệ, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo chưa đạt như kỳ vọng.

Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - bà Bùi Thu Thủy - nhìn nhận khoảng cách này xuất phát từ cả hai phía. Các DN FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp truyền thống, trong khi DN trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, còn hạn chế về vốn, quản trị và công nghệ.

Bà Thủy nêu dẫn chứng đáng suy ngẫm: Intel bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 2006. Nhưng phải đến năm 2022 - gần 20 năm sau - Tập đoàn này mới lựa chọn được DN Việt Nam đầu tiên trở thành nhà cung ứng trong chuỗi của mình là Công ty Fab 9 tại Bình Dương.

“Nếu chúng ta tiếp tục để thị trường tự vận hành theo cách cũ, các DN FDI và DN trong nước vẫn có thể hợp tác như trường hợp của Intel và Fab 9, nhưng khoảng thời gian 20 năm là quá dài. Nền kinh tế Việt Nam không thể chờ đợi lâu như vậy để chuyển mình và nâng cao nội lực phát triển” - bà Thủy nhấn mạnh.

Ông Richard Barnsley khuyến nghị, giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút vốn đầu tư mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn đó. Theo Phó Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) - ông Yasushi Masaki, Việt Nam không chỉ cần thêm FDI, mà cần FDI có chất lượng cao hơn, gắn chặt hơn với DN trong nước, tạo nhiều tri thức, kỹ năng, công nghệ và giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế Việt Nam.

Tổng Giám đốc ABB Automation and Electrification Việt Nam - bà Nguyễn Thụy Lam Tuyền - cũng khẳng định, giá trị đầu tư không nằm ở số lượng thỏa thuận được ký kết, mà ở những kết quả thực chất tạo ra cho DN, người lao động và nền kinh tế.

Sau 4 thập kỷ, Việt Nam có đủ cơ sở để khẳng định FDI là một động lực quan trọng của quá trình mở cửa và phát triển. Nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi một yêu cầu cao hơn: Nguồn lực bên ngoài phải góp phần làm dày thêm nội lực bên trong. Đây cũng là tư duy được đặt vào trung tâm Nghị quyết số 10-NQ/TW, mở ra một chương mới trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam. Nội dung này sẽ được làm rõ ở bài sau./.

XUÂN HỒNG

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/fdi-tu-thu-hut-nguon-luc-den-tao-dung-noi-luc