Gần 50 năm giữ lời hứa 'đưa đồng đội trở về' (1): Chữ ký bằng máu mở đường vào chiến trường

Ở tuổi 82, bác sĩ quân y Trần Văn Bản vẫn đều đặn có mặt tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM) tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Ông đứng suốt nhiều giờ để hướng dẫn các đội tìm kiếm, quy tập phân loại từng mảnh xương, từng di vật của những chiến sĩ vừa được tìm thấy.

Từ một người lính, một bác sĩ quân y từng đi qua chiến tranh, đến nay, ông đã dành hơn nửa cuộc đời tìm kiếm hài cốt, đưa đồng đội trở về với gia đình, với quê hương. Qua loạt bài này, Báo Sức khỏe và Đời sống giới thiệu những câu chuyện do chính bác sĩ quân y Trần Văn Bản kể lại. Từ chàng trai 22 tuổi nhiều lần tình nguyện nhập ngũ, băng qua Trường Sơn, đi qua những trận chiến khốc liệt và đến tuổi 82 vẫn miệt mài đưa đồng đội trở về.

Đi bộ từ Bắc vào Nam hết 6 tháng 13 ngày

Từ năm 18 tuổi, chàng trai Trần Văn Bản đã nhiều lần tình nguyện nhập ngũ nhưng đều bị từ chối vì không đủ sức khỏe. Đến lần thứ tư, khi tưởng cánh cửa ra chiến trường khép lại, chàng trai 22 tuổi đã cắn tay lấy máu ký vào bản "quyết tâm thư". Chính quyết tâm này đã đưa Trần Văn Bản lên đường, bắt đầu hành trình của một người lính.

Sẽ khó có ai đoán được tuổi thật của bác sĩ quân y Trần Văn Bản nếu ông không nói vì nhìn ông trẻ hơn nhiều so với tuổi 82. Dáng người ông rắn rỏi, bước đi nhanh nhẹn, giọng nói sang sảng và luôn tràn đầy nhiệt huyết.

Điều khiến người đối diện ấn tượng hơn cả là trí nhớ đáng kinh ngạc của ông. Ông nhớ rành rọt từng mốc thời gian, từng con số, từng trận đánh, từng người đồng đội và cả những câu chuyện đã diễn ra cách đây gần 60 năm như thể mới chỉ hôm qua.

Ở tuổi 82, bác sĩ quân y Trần Văn Bản vẫn đều đặn có mặt tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM) tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ”. Ảnh: H. Phan

Ở tuổi 82, bác sĩ quân y Trần Văn Bản vẫn đều đặn có mặt tại Công viên Lê Thị Riêng (TPHCM) tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ”. Ảnh: H. Phan

Ông nhập ngũ ngày 25/3/1967, khi còn là một chàng trai trẻ 22 tuổi. "Từ năm 18 tuổi, năm nào tôi cũng đi khám tuyển nhưng do chỉ nặng khoảng 40 kg nên lần nào cũng bị loại vì lý do sức khỏe. Mãi đến lần thứ tư tôi mới được chấp nhận, lúc đó tôi mừng lắm" - ông Bản kể.

Ngày giao quân, đơn vị đọc danh sách từng người, với 531 người được gọi tên. Ông đứng chờ mãi nhưng không nghe tên mình. Ông nghĩ: "Trời ơi, lần thứ tư rồi sao vẫn không được đi?". Ông chạy tới gặp vị chỉ huy giao quân, tha thiết xin được nhập ngũ.

Ông trình bày: "Đây là lần thứ tư rồi, không có lý do gì không cho tôi đi nữa". Người chỉ huy động viên: "Thôi đồng chí ở lại, lần sau đi". Ông lập tức đáp: " Tôi muốn được nhập ngũ ngay lần này. Người ta quá tam ba bận, tôi đây là lần thứ tư rồi".

Ngay tại đó, ông viết một bản quyết tâm thư xin được lên đường. Viết xong, ông lấy bút chích vào đầu ngón tay, nặn máu ký tên.

Vị chỉ huy cầm bản quyết tâm thư, nhìn chữ ký bằng máu rồi nói: "Được rồi. Cho đồng chí đi". Nhờ vậy, ông Bản được chính thức nhập ngũ.

Bác sĩ Trần Văn Bản xúc động giở cuốn sổ ghi chép thông tin các liệt sĩ. Ảnh: H.Phương

Bác sĩ Trần Văn Bản xúc động giở cuốn sổ ghi chép thông tin các liệt sĩ. Ảnh: H.Phương

Trước đó, trong thời gian chờ được nhập ngũ, ông tích cực tham gia các phong trào thanh niên tại địa phương. "Hồi đó tôi viết chữ đẹp lắm. Chuyên đi viết khẩu hiệu tuyên truyền trên tường" – ông Bản kể. Những khẩu hiệu khi ấy đều hướng về tiền tuyến, như "Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt". "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người".

Ông còn nhớ rất rõ phong trào "Ba khoan" dành cho thanh niên lúc ấy. "Nếu chưa yêu thì khoan hãy yêu. Nếu yêu rồi thì khoan hãy cưới. Nếu cưới rồi thì khoan hãy đẻ". Tất cả đều nhằm một mục tiêu là thanh niên yên tâm lên đường chiến đấu.

Lúc mới nhập ngũ, ông tham gia Tiểu đoàn 342, Trung đoàn 42, Bộ tư lệnh 350. Khi vào đến miền Nam thì đơn vị ông là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 268, Phân khu I Sài Gòn-Gia Định, đóng quân và chiến đấu ở vùng "Tam giác sắt" Củ Chi - Bến Cát - Trảng Bàng. Đơn vị của ông có khoảng 653 cán bộ, chiến sĩ.

Trước khi hành quân vào Miền Nam, các đơn vị khác chỉ huấn luyện khoảng ba tháng thì đơn vị của ông được huấn luyện tới sáu tháng, vì đây là tiểu đoàn thực binh, nghĩa là toàn bộ cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện đầy đủ mọi hình thức tác chiến.

"Từ đánh công kiên, đánh tập kích, chống càn, phản kích..., tất cả đều được học rất kỹ" - ông kể. Lý do là cả tiểu đoàn sẽ vào chiến trường với nguyên đội hình.

Đầu tháng 2/1968, đơn vị ông vào tới chiến trường Tây Ninh. Hành trình bắt đầu từ khu vực Đá Trắng - Đèo Vàng (Quảng Ninh), vượt dãy Trường Sơn rồi vào tới Lộc Thuận, Trảng Bàng (Tây Ninh), cả đơn vị đi bộ mất 6 tháng 13 ngày.

Ông kể việc hành quân cực kỳ gian khổ. Khi còn ở miền Bắc, bộ đội chủ yếu đi ban đêm, ban ngày nghỉ trong nhà dân để tránh máy bay địch. Đến khi vào rừng Trường Sơn thì ngược lại, đi ban ngày và nghỉ ban đêm trong rừng. Mỗi ngày hành quân từ trạm này sang trạm khác.

Có hôm đến nơi mới khoảng 2 giờ chiều, tiểu đoàn trưởng quyết định "vượt trạm", tức không nghỉ mà tiếp tục đi thêm một chặng nữa.

Mỗi lần hỏi cán bộ giao liên "hôm nay còn xa không anh?", câu trả lời quen thuộc luôn là "đi nhanh thì đến trước mặt trời. Đi chậm thì đến sau mặt trời". Không ai nói còn bao nhiêu cây số.

Bác sĩ Bản nghẹn ngào chỉ vào từng kỷ vật của đồng đội. Ảnh: H.Phương

Bác sĩ Bản nghẹn ngào chỉ vào từng kỷ vật của đồng đội. Ảnh: H.Phương

Đi qua "cầu người", chiến sĩ nào cũng rơi nước mắt

Điều khiến ông nhớ nhất trong suốt hành trình Trường Sơn là hình ảnh những nữ thanh niên xung phong.

Ông nhận xét: "Họ là những cô gái thật tuyệt vời. Theo tôi, ai cũng xứng đáng được phong Anh hùng". Có những con suối nước chảy xiết. Nếu bộ đội tự lội qua sẽ rất mất thời gian. Mỗi người phải cởi quần áo, chỉ mặc quần đùi, đội ba lô lên đầu rồi lội qua. Một tiểu đoàn hơn 600 người sẽ mất hàng giờ đồng hồ. Để bảo đảm hành quân nhanh, các nữ thanh niên xung phong nghĩ ra một cách đặc biệt.

Họ dựng nên "cầu người". Hai bên bờ suối, các chị đứng dưới nước, hai tay giữ những cây gỗ dài bắc ngang. Phía trên được phủ bằng những tấm phên đan từ tre, nứa. Bộ đội bước trên những tấm phên đó để qua suối.

Các chị đã phải đứng ngâm mình dưới nước suốt nhiều giờ. Trên đầu đội chiếc mũ trắng để bộ đội nhìn thấy trong đêm mà không bước lệch.

"Lúc đầu chúng tôi chỉ thấy những chấm trắng mờ mờ trong bóng tối" - ông kể. Đến khi cúi xuống sờ mới biết đó là đầu của các chị. "Chúng tôi ai cũng chảy nước mắt" - ông Bản nghẹn ngào xúc động.

Theo ông, sau này khoảng 80% những nữ thanh niên xung phong ấy đã hy sinh. Nhiều người đánh đổi cả tuổi thanh xuân. Đáng lẽ họ được làm vợ, làm mẹ nhưng cuối cùng hy sinh hoặc mang bệnh tật suốt đời.

Ông cũng nhớ rất rõ những quy tắc sinh tồn trên đường Trường Sơn. Mỗi người chỉ được cấp một bình tông khoảng một lít nước mỗi ngày. "Uống nước cũng phải có nghệ thuật" – ông chia sẻ.

Từng kỷ vật của đồng đội được BS Bản lưu giữ và ghi chép rất cẩn thận. Ảnh: H.Phương

Từng kỷ vật của đồng đội được BS Bản lưu giữ và ghi chép rất cẩn thận. Ảnh: H.Phương

Sau mỗi giờ đi bộ, đơn vị nghỉ khoảng 10 phút. Lúc nghỉ tuyệt đối không được uống nước ngay mà phải đứng mở áo cho mồ hôi bớt rồi mới mở bình. Mỗi lần chỉ rót khoảng ba đến bốn nắp bình. Ngậm nước trong miệng một lúc để cơ thể có cảm giác đã được uống rồi mới nuốt từ từ. "Nếu cầm bình tu một hơi thì hết nước, coi như không thể đi tiếp" - ông ngậm ngùi kể.

Có những con suối nước rất trong. Ai cũng khát nhưng tuyệt đối không được uống. Hai bên suối luôn có cán bộ đứng canh và dặn: "Tuyệt đối không ai được thò tay xuống nước". Sau này ông mới biết nhiều nguồn nước bị nhiễm độc. Ông kể có chiến sĩ chỉ nhúng chiếc khăn xuống suối rồi vắt nước uống. Đêm hôm đó vẫn bình thường. Nhưng sáng hôm sau thì hy sinh ngay trên võng.

Sau 6 tháng 13 ngày hành quân liên tục, đơn vị của ông cuối cùng cũng đặt chân tới Trảng Bàng (Tây Ninh). "Hôm đó khoảng tám giờ tối thì vào đến nơi" - ông nhớ như in.

Bữa cơm đầu tiên trên đất Nam Bộ là ký ức ông nhớ mãi suốt đời.Trong suốt hơn 6 tháng hành quân trên Trường Sơn, bộ đội vẫn có cơm ăn nhưng gần như không có một cọng rau tươi.

Đến Trảng Bàng, đơn vị được một gia đình địa phương nấu cơm. Điều ông nhớ nhất không phải là cơm mà là... một rổ rau muống luộc.

"Hồi đó chúng tôi gọi là mẹ chứ chưa gọi là má" - ông chia sẻ. Ông nhìn thấy phía sau nhà bà cụ có cả một vườn rau muống xanh mướt.

Các chiến sĩ đồng thanh xin: "Mẹ ơi, cho chúng con ít rau". Bà cụ luộc nguyên một rổ rau rất lớn. Điều đặc biệt là cả đơn vị gần như không ăn cơm, chỉ ăn rau. Ông cười nhớ lại: "Rau ngon đến mức không thể tưởng tượng được vì hơn sáu tháng chưa được ăn một cọng rau tươi".

Ăn cơm xong, cả đơn vị không được nghỉ. Ngay trong đêm đầu tiên, tất cả lập tức mang cuốc xẻng đi đào chiến hào, đào công sự. Vào tới chiến trường là phải chuẩn bị chiến đấu ngay. Mọi người làm việc đến gần sáng hôm sau…

(Còn tiếp).

Hà Phương

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/gan-50-nam-giu-loi-hua-dua-dong-doi-tro-ve-1-chu-ky-bang-mau-mo-duong-vao-chien-truong-16926072516374527.htm