Giá dầu cao, nợ công lớn: Hai yếu tố chính khiến thị trường trái phiếu chính phủ toàn cầu bán tháo
Nếu cú sốc giá dầu đóng vai trò là tia lửa châm ngòi cho đợt bán tháo trái phiếu, thì khối nợ tích tụ chính là "nhiên liệu khô" khiến ngọn lửa bùng mạnh và vượt tầm kiểm soát...

Tòa nhà Quốc hội Mỹ ở Capitol Hill, Washington DC - Ảnh: NYT.
Giá dầu cao rõ ràng là một nguyên nhân chính dẫn tới đợt bán tháo trên thị trường trái phiếu chính phủ toàn cầu trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, theo tờ báo Wall Street Journal, mức nợ công lớn của nhiều quốc gia có thể cũng đóng một vai trò quan trọng khiến nhà đầu tư tháo chạy.
Việc mức nợ có ảnh hưởng như thế nào trong việc trái phiếu bị bán tháo vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi trên thị trường tài chính. Chẳng hạn, nếu chỉ nhìn vào thị trường Mỹ, nhiều nhà phân tích cho rằng chính kỳ vọng lạm phát, cùng với dự báo về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ, mới là những yếu tố chủ đạo đẩy lợi suất trái phiếu lên cao.
Dù vậy, đà tăng của lợi suất trái phiếu chính phủ toàn cầu trong vài tuần gần đây không thể được lý giải một cách đầy đủ bởi các yếu tố này. Theo tính toán của Fed chi nhánh San Francisco, mức lợi suất cộng thêm mà nhà đầu tư yêu cầu để nắm giữ trái phiếu dài hạn đang vượt quá ngưỡng có thể giải thích được bằng biến động lãi suất ngắn hạn. Điều này đồng nghĩa rằng đang có những mối lo ngại khác tác động đến tâm lý nhà đầu tư.
Mặt khác, cách giải thích dựa trên lạm phát không làm rõ được lý do tại sao một số quốc gia như Pháp lại chứng kiến mức tăng lợi suất đặc biệt mạnh, vì xét cho cùng, tất cả các nước trên thế giới đều đang đối mặt với cùng một cú sốc giá năng lượng liên quan tới cuộc chiến ở Vùng Vịnh.
Một phân tích nhanh của Wall Street Journal về các nền kinh tế công nghiệp phát triển thuộc nhóm G7 cho thấy mức nợ đóng vai trò rất đáng kể trong làn sóng bán tháo trái phiếu chính phủ toàn cầu. Có thể mô tả rằng nếu cú sốc giá dầu đóng vai trò là tia lửa châm ngòi cho đợt bán tháo trái phiếu, thì khối nợ tích tụ chính là "nhiên liệu khô" khiến ngọn lửa bùng mạnh và vượt tầm kiểm soát.
Theo dữ liệu từ FactSet, trong quý 3 vừa qua, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng vọt 0,83 điểm phần trăm, mức tăng theo quý lớn nhất kể từ năm 1994. Hai quốc gia khác trong nhóm G7 là Pháp và Italy thậm chí còn chứng kiến mức tăng mạnh hơn đối với lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm, lần lượt là 1,29 và 1,28 điểm phần trăm.

Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của một số nước G7 - Nguồn: FactSet/WSJ.
Theo dữ liệu từ Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Italy là quốc gia có gánh nặng nợ công lớn nhất trong nhóm, ở mức 149% GDP vào năm 2025. Con số này ở Mỹ là 126%. Pháp cũng không kém xa với mức nợ 117% GDP, và mối lo ngại hiện nay là con số này có thể phình to hơn nữa dưới thời một tổng thống thuộc phe cực hữu hoặc cực tả trong tương lai.
Ngược lại, ba quốc gia có tỷ lệ nợ trên GDP thấp hơn đáng kể so với Mỹ, gồm Đức, Anh và Canada, đều ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn của lợi suất trái phiếu chính phủ.
Tất nhiên, mức nợ công của các quốc gia nói trên không đột ngột tăng cao trong quý 3 so với quý 2. Tuy nhiên, trên thị trường, một yếu tố rủi ro có thể bị phớt lờ trong một thời gian dài cho đến khi đột nhiên trở thành vấn đề quan trọng.
Tình trạng này thường xảy ra khi một yếu tố mới khiến một vấn đề vốn có trở nên trầm trọng hơn. Trong trường hợp này, yếu tố mới chính là cuộc xung đột liên quan đến Iran và giá dầu. Ngay cả khi yếu tố mới này sớm được giải quyết, nhà đầu tư vẫn có thể tiếp tục lo ngại về gánh nặng nợ công, đặc biệt là tại những quốc gia đang gánh khoản nợ lớn.
Mối lo ngại đó có thể khiến lợi suất trái phiếu duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn, dù đã giảm nhẹ so với các mức đỉnh gần đây.
Mỗi quốc gia cũng có những yếu tố quan trọng riêng cần xem xét.
Canada là nước xuất khẩu dầu lớn, dù chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Mỹ - đối tác mà mối quan hệ thương mại với Canada đang có nhiều bất ổn. Tại Pháp, rủi ro chính trị là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà đầu tư. Dù vậy, xu hướng chung là rất rõ ràng: mức nợ cao hơn đồng nghĩa với tác động tiêu cực lớn hơn đối với giá trái phiếu.
Trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là Nhật Bản. Dù nước này có tỷ lệ nợ cao nhất trong nhóm G7 và thường xuyên xuất hiện trong các dòng tít báo tiêu cực về vấn đề tài khóa, quốc gia này lại ghi nhận mức tăng lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm thấp nhất, chỉ khoảng 0,4 điểm phần trăm trong quý 3.
Theo Wall Street Journal, có một số điểm quan trọng cần lưu ý khi nói về Nhật Bản. Tổng nợ công của Nhật Bản trông có vẻ khổng lồ, lên tới hơn 200% GDP. Nhưng con số này chưa tính đến các tài sản tài chính lớn mà chính phủ Nhật Bản đang nắm giữ, bao gồm dự trữ ngoại hối và các khoản đầu tư khác. Sau khi trừ đi các khoản này, các nhà kinh tế của Capital Economics ước tính tỷ lệ nợ công trên GDP của Nhật Bản sẽ ở mức 109% vào năm 2027, mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.

Tỷ lệ nợ công so với GDP của các nước G7. Số liệu của Nhật Bản là năm 2024, số liệu của các nước còn lại là năm 2025 - Nguồn: OECD/WSJ.
Ngoài ra, thâm hụt ngân sách hàng năm của nước này thực tế lại thấp nhất trong nhóm. Theo dữ liệu từ OECD, vào năm 2024 - năm gần nhất có đầy đủ dữ liệu cho cả 7 quốc gia trong G7 - thâm hụt ngân sách chính phủ Nhật Bản ở mức 1,7% GDP. Con số này thấp hơn nhiều so với mức trung bình 4,7% của các nước còn lại trong nhóm G7. Như vậy, có thể nói rằng Nhật Bản hiện đang là quốc gia hành động có trách nhiệm nhất về ngân sách.
Đối với các nhà đầu tư, điều này có nghĩa là họ cần đặc biệt chú trọng đến các yếu tố chính trị. Nhiều khả năng, những quốc gia đưa ra được các kế hoạch đáng tin cậy để quản lý nợ công và giảm thâm hụt ngân sách sẽ ít chịu ảnh hưởng từ biến động thị trường trái phiếu trong những tháng tới, bất kể diễn biến giá dầu ra sao. Một điều đáng nói là những nước như vậy có vẻ như không bao gồm Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới.


