Giá gạo Việt Nam đi ngược xu hướng với các nước xuất khẩu lớn
Giá gạo Việt Nam xuất khẩu tuần qua tiếp tục đi ngang ở mức từ 430-450 USD/tấn trong khi giá gạo Thái Lan tăng lên mức cao nhất một tháng và gạo Ấn Độ duy trì vùng giá cao, cho thấy thị trường xuất khẩu đang có sự phân hóa.

Nông dân huyện Phước Long (Bạc Liêu) sử dụng máy gặt đặp liên hợp thu hoạch lúa. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN
Tại thị trường lúa gạo trong nước, theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, giá lúa tuần qua hầu hết đi ngang. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.900-7.100 đồng/kg; IR 50404 ở mức 6.300-6.400 đồng/kg; OM 5451 từ 6.700-6.800 đồng/kg và OM 34 từ 6.100-6.200 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu, IR 50404 xuất khẩu dao động 9.700-9.800 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.750-9.850 đồng/kg, giảm 50 đồng/kg; OM 5451 từ 9.300-9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200-9.400 đồng/kg và Sóc thơm từ 7.500-7.600 đồng/kg. Giá phụ phẩm cũng tương đối ổn định, với cám ở mức 7.850-8.000 đồng/kg và tấm thơm 8.600-8.750 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo 5% tấm của Việt Nam tiếp tục đi ngang ở mức từ 430-450 USD/tấn trong bối cảnh nhu cầu thấp. Theo một số thương nhân, giao dịch vẫn trầm lắng do sức mua yếu.
Trong bối cảnh sắp bước vào cao điểm thu hoạch vụ Hè Thu và Thu Đông, Hiệp hội Lương thực Việt Nam đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục có giải pháp điều hành linh hoạt, giữ ổn định mặt bằng giá lúa, tạo điều kiện để doanh nghiệp thu mua và bảo đảm lợi nhuận hợp lý cho nông dân, hạn chế nguy cơ “được mùa, mất giá”.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách khuyến khích, hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo; nâng cao năng lực hợp tác xã và tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách. Đồng thời, Bộ tăng cường cung cấp sớm thông tin về cơ cấu giống, diện tích và tiến độ gieo sạ tại các vùng sản xuất ngay sau khi xuống giống, giúp doanh nghiệp chủ động dự báo nguồn cung, xây dựng kế hoạch thu mua, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường.
Trong khi đó, tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu tiếp tục duy trì quanh mức cao nhất trong 10 tháng qua do nguy cơ El Nino làm thắt chặt nguồn cung. Giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ giao dịch ở mức từ 358 - 364 USD/tấn, trong khi gạo trắng 5% tấm giữ mức từ 357 - 363 USD/tấn. Đáng chú ý, bất chấp ảnh hưởng từ cuộc xung đột tại Iran làm gián đoạn thương mại vùng Vịnh, xuất khẩu gạo Ấn Độ trong nửa đầu năm 2026 vẫn tăng trưởng 5% nhờ sức hút của các dòng gạo không phải basmati. Thương nhân cho biết các nhà nhập khẩu vẫn phải chấp nhận mua vào dù giá đang ở ngưỡng cao.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm chạm mốc cao nhất một tháng, vươn lên mức từ 455 - 460 USD/tấn tăng so với mức 450 USD/tấn của tuần trước. Giới thương nhân tại Bangkok đánh giá khách hàng châu Á chỉ mua vào với số lượng cầm chừng, đồng thời dự báo xuất khẩu sẽ giảm vào cuối năm nay khi nguồn cung từ các tỉnh miền Trung Thái Lan đổ về.
Trong khi đó, tại Nam Á, giá gạo ở Bangladesh vẫn neo ở mức cao sau khi hai đợt lũ lụt tàn phá nặng nề các vùng trồng lúa, buộc chính phủ nước này phải khẩn trương phát triển các giống lúa mới thích ứng với biến đổi khí hậu.
Về thị trường nông sản Mỹ, trên Sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT), thị trường lúa mỳ kết thúc tuần với mức tăng mạnh. Động lực chính đẩy giá lúa mỳ vọt tăng đến từ việc Nga tiếp tục các hoạt động quân sự nhằm vào tàu nước ngoài tại khu vực Biển Đen.
Về mặt dữ liệu, thị trường đang chờ đợi báo cáo cung cầu tháng 8/2026 của Bộ Nông nghiệp Mỹ, dự kiến công bố vào ngày 12/8. Giới phân tích dự báo sản lượng lúa mỳ của Mỹ sẽ giảm 11 triệu bushel xuống 1,525 tỷ bushel . Tại châu Âu, Bộ Nông nghiệp Pháp cũng hạ dự báo sản lượng lúa mỳ mềm xuống 31,9 triệu tấn (giảm 100.000 tấn so với tháng trước).
Trái ngược với lúa mỳ, đậu tương và ngô hầu như không đổi hoặc chỉ ghi nhận mức giảm tối thiểu nhờ thời tiết thuận lợi. Các vùng trồng đậu tương tại Mỹ đã đón lượng mưa cao bằng 190% mức trung bình trong 7 ngày qua. Bộ Nông nghiệp Mỹ ghi nhận Mỹ đã bán thành công 238.000 tấn đậu tương cho Trung Quốc và hơn 286.000 tấn ngô cho Mexico. Tại khu vực Nam Mỹ, dữ liệu tháng 7/2026 cho thấy Brazil xuất khẩu 13,4 triệu tấn đậu tương, giảm 7,58% so với cùng kỳ năm ngoái và 1,943 triệu tấn ngô, giảm 21,2%.

Cà phê robusta rang bằng phương pháp truyền thống tại Krueng Barona Jaya, tỉnh Aceh, Indonesia. Ảnh: AFP/TTXVN
Thị trường cà phê thế giới đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần, thị trường cà phê chứng kiến sự phân hóa. Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao kỳ hạn tháng 9/2026 bật tăng 13,90 xu/lb (4,32%) lên mức 355,55 xu/lb (1 lb = 0,45 kg). Đà tăng này được củng cố nhờ sự suy yếu của đồng USD giúp hàng hóa định.
Ngược lại, kỳ vọng về nguồn cung dồi dào từ các quốc gia sản xuất chủ chốt tiếp tục gây sức ép lên giá cà phê Robusta. Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 giảm 11 USD/tấn, lùi về mốc 3.787 USD/tấn.
Tại thị trường trong nước, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên trong tuần có sự biến động tăng/giảm khá mạnh. Song, chốt phiên cuối tuần này, giá cà phê không có sự thay đổi lớn so với tuần trước.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê hiện dao động 96.300-97.000 đồng/kg, tăng khoảng 100 đồng/kg so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tại Gia Lai và Đắk Lắk, giá cà phê lên 96.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg so với tuần trước.














